Xem Nhiều 2/2023 #️ Khuynh Hướng Sử Thi Và Cảm Hứng Lãng Mạn # Top 2 Trend | Tvzoneplus.com

Xem Nhiều 2/2023 # Khuynh Hướng Sử Thi Và Cảm Hứng Lãng Mạn # Top 2 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Khuynh Hướng Sử Thi Và Cảm Hứng Lãng Mạn mới nhất trên website Tvzoneplus.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tin về nửa đêm Hoả tốc hoả tốc Ngựa bay lên dốc Đuốc chạy sáng rừng Chuông reo tin mừng Loa kêu từng cửa Làng bản đỏ đèn, đỏ lửa…

Hoan hô chiến sĩ Điện Biên Hoan hô đồng chí Võ Nguyên Giáp! Sét đánh ngày đêm xuống đầu giặc Pháp! Vinh quang Tổ quốc chúng ta Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Vinh quang Hồ Chí Minh, Cha của chúng ta ngàn năm sống mãi Quyết chiến quyết thắng, cờ đỏ sao vàng vĩ đại

Kháng chiến ba nghìn ngày Không đêm nào vui bằng đêm nay Đêm lịch sử Điện Biên sáng rực Trên đất nước, như Huân chương trên ngực Dân tộc ta dân tộc anh hùng!

Điện Biên vời vợi nghìn trùng Mà lòng bốn biển nhịp cùng lòng ta Đêm nay bè bạn gần xa Tin về chắc cũng chan hoà vui chung.

II

Hoan hô chiến sĩ Điện Biên Chiến sĩ anh hùng Đầu nung lửa sắt Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt Máu trộn bùn non Gan không núng Chí không mòn! Những đồng chí thân chôn làm giá súng Đầu bịt lỗ châu mai Băng mình qua núi thép gai Ào ào vũ bão, Những đồng chí chèn lưng cứu pháo Nát thân, nhắm mắt, còn ôm… Những bàn tay xẻ núi lăn bom Nhất định mở đường cho xe ta lên chiến trường tiếp viện Và những chị, những anh ngày đêm ra tiền tuyến Mấy tầng mây gió lớn mưa to Dốc Pha Đin, chị gánh anh thồ Đèo Lũng Lô, anh hò chị hát Dù bom đạn xương tan, thịt nát Không sờn lòng, không tiếc tuổi xanh… Hỡi các chị, các anh Trên chiến trường ngã xuống Máu của anh chị, của chúng ta không uổng Sẽ xanh tươi đồng ruộng Việt Nam Mường Thanh, Hồng Cúm, Him Lam Hoa mơ lại trắng, vườn cam lại vàng…

III

Lũ chúng nó phải hàng, phải chết Quyết trận này quét sạch Điện Biên! Quân giặc điên Chúng bay chui xuống đất Chúng bay chạy đằng trời? Trời không của chúng bay Đạn ta rào lưới sắt! Đất không của chúng bay Đai thép ta thắt chặt!

Của ta trời đất đêm ngày Núi kia, đồi nọ, sông này của ta Chúng bay chỉ một đường ra Một là tử địa, hai là tù binh Hạ súng xuống rùng mình run rẩy Nghe pháo ta lừng lẫy thét gầm! Nghe trưa nay tháng năm, mùng bảy Trên đầu bay thác lửa hờn căm Trông: Bốn mặt luỹ hầm sụp đổ Tướng quân bay lố nhố cờ hàng Trông: Chúng ta cờ đỏ sao vàng Rực trời đất Điện Biên toàn thắng! Hoan hô chiến sĩ Điện Biên!

Tiếng reo núi vọng sông rền Đêm nay chắc cũng về bên Bác Hồ Bác đang cúi xuống bản đồ Chắc là nghe tiếng quân hò quân reo… Từ khi vượt núi qua đèo Ta đi, Bác vẫn nhìn theo từng ngày Tin về mừng thọ đêm nay Chắc vui lòng Bác giờ này đợi trông!

IV

Đồng chí Phạm Văn Đồng Ở bên đó, chắc đêm nay không ngủ Tin đây Anh, Điện Biên Phủ hoàn thành Ngày mai, vào cuộc đấu tranh Nhìn xuống mặt bọn Bi-đôn, Smít Anh sẽ nói: “Thực dân, phát xít Đã tàn rồi! Tổ quốc chúng tôi Muốn độc lập hoà bình trở lại Không muốn lửa bom đổ xuống đầu con cái Nước chúng tôi và nước các anh Nếu còn say máu chiến tranh Ở Việt Nam, các anh nên nhớ Tre đã thành chông, sông là sông lửa Và trận thắng Điện Biên Cũng mới là bài học đầu tiên!” (5-1954)

NGƯỜI CON GÁI ViỆT NAM (Tố Hữu)Em là ai? Cô gái hay nàng tiên Em có tuổi hay không có tuổi Mái tóc em đây, hay là mây là suối Đôi mắt em nhìn hay chớp lửa đêm giông Thịt da em hay là sắt là đồng?

Cho tôi hôn bàn chân em lạnh ngắt Cho tôi nâng bàn tay em nắm chặt Ôi bàn tay như đôi lá còn xanh Trên mình em đau đớn cả thân cành

Tỉnh lại em ơi, qua rồi cơn ác mộng Em đã sống lại rồi, em đã sống! Điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung Không giết được em, người con gái anh hùng!

Ôi trái tim em trái tim vĩ đại Còn một giọt máu tươi còn đập mãi Không phải cho em. Cho lẽ phải trên đời Cho quê hương em. Cho Tổ quốc, loài người!

Từ cõi chết, em trở về, chói lọi Như buổi em đi, ngọn cờ đỏ gọi Em trở về, người con gái quang vinh Cả nước ôm em, khúc ruột của mình.

Em đã sống, bởi vì em đã thắng Cả Nước bên em, quanh giường nệm trắng Hát cho em nghe như tiếng mẹ ngày xưa Sông Thu Bồn giọng hát đò đưa…

Cả nước cho em, cho em tất cả Máu tiếp máu, cho lại hồng đôi má Cho mái tóc em xanh lại ngày xuân Cho thịt da em lại nở trắng ngần

Em sẽ đứng trên đôi chân tuổi trẻ Đôi gót đỏ lại trở về quê mẹ Em sẽ đi, trên đường ấy thênh thang Như những ngày xưa, rực rỡ sao vàng!

Ôi đôi mắt của em nhìn, rất đẹp Hãy sáng mãi niềm tin tươi ánh thép Như quê em Gò Nổi, Kỳ Lam Hỡi em, người con gái Việt Nam!

(7-12-1958)

DÁNG ĐỨNG ViỆT NAM (Lê Anh Xuân)Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhứt Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng Và Anh chết trong khi đang đứng bắn Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng. Chợt thấy anh, giặc hốt hoảng xin hàng Có thằng sụp xuống chân Anh tránh đạn Bởi Anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tiến công Anh tên gì hỡi Anh yêu quý Anh vẫn đứng lặng im như bức thành đồng Như đôi dép dưới chân Anh giẫm lên bao xác Mỹ Mà vẫn một màu bình dị, sáng trong

Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ Anh chẳng để lại gì cho riêng Anh trước lúc lên đường Chỉ để lại cái dáng-đứng-Việt-Nam tạc vào thế kỷ: Anh là chiến sỹ Giải phóng quân. Tên Anh đã thành tên đất nước Ôi anh Giải phóng quân! Từ dáng đứng của Anh giữa đường băng Tân Sơn Nhứt Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân

(3-1968)

Khuynh Hướng Sử Thi Và Cảm Hứng Lãng Mạn Trong Nền Văn Học 1945

Trước hết cần giải thích được về khái niệm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.

Khuynh hướng sử thi được hiểu là những tình cảm, cảm xúc tự hào, ngợi ca của tác giả về những vấn đề lớn lao quyết định vận mệnh chung của cộng đồng. Đây là cảm hứng chi phối mạnh mẽ đến các sáng tác của các thi nhân trong thời kỳ kháng chiến , đặc biệt là cuộc kháng chiến chống Mỹ. Tác phẩm viết theo khuynh hướng sử thi là tác phẩm đề cập đến những đề tài có ý nghĩa lịch sử và mang tính dân tộc. Nhân vật chính là những người tiêu biểu cho lí tưởng và phẩm chất cộng đồng,và chiến đấu vì cộng đồng.Sử thi thì mang ý nghĩa lịch sử còn cảm hứng lãng mạn lại mang nội dung trữ tình sôi nổi, dạt dào và hướng về lý tưởng, hướng về tương lai.Cảm hứng lãng mạn không chỉ sôi nổi trong thơ mà cả trong văn xuôi.Từ tiểu thuyết, truyện ngắn đến bút kí,tuỳ bút và cả kịch bản sân khấu đều rất giàu chất thơ.Hướng vận động của cốt truyện, số phận nhân vật, dòng cảm nghĩ của tác giả hầu như đều đi từ bóng tối ra ánh sáng, từ gian khổ đến niềm vui, từ hiện tại đến tương lai đầy hứa hẹn. Cảm hứng lãng mạn đó là cách nhìn thế giới mang đậm dấu ấn chủ quan, đầy mơ ước.Có khi đó là sự mơ ước bay bổng hướng tới cái chưa có trong thực tế bằng niềm tin,sự lạc quan.Có khi đó là những rung động về lí tưởng cao đẹp,khát vọng lớn lao của những con người có chí hướng, hoài bão cao cả…Văn học 1945-1975 đã thể hiện những cảm xúc lãng mạn tích cực đó.Hiện thực chiến tranh khốc liệt, phải đương đầu với hai kẻ thù hùng mạnh, một nửa đất nước tiến lên con đường Chủ nghĩa xã hội từ đôi tay trắng, phải “Dọn tí phân rơi nhặt từng mẩu lá” để “dựng cơ đồ”(Tố Hữu). Con người muốn đứng vững,vượt qua hiện thực ấy cần phải có niềm tin và tâm hồn lãng mạn.

Nền văn học 1945-1975 phát triển, vận động theo chặng đường lịch sử của dân tộc. Chính khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn đã làm cho văn xuôi tự sự gần với thơ ca và thơ ca giàu yếu tố tự sự. Vì vậy văn học bám sát vào cuộc sống hiện thực hơn.Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn được biểu hiện ở các phương diện sau:

Thứ hai: trong việc xây dựng hình tượng.

Các nhân vật, hình tượng trong các tác phẩm mang cả hứng sử thi, dù là những con người bình dị, thuộc nhiều tầng lớp, lứa tuổi, thành phần dân tộc… đều mang trong mình những phẩm chất anh hùng, thể hiện tầm vóc lớn lao, kết tụ sức mạnh, ý chí chung của cả cộng đồng. Đó là những Tnú, cụ Mết và dân làng Xô man, là hình ảnh đoàn quân hừng hực khí thế trong Việt Bắc: “Những đường Việt Bắc của ta…Đèn pha bật sáng như ngày mai lên”. Cảm hứng chủ đạo khi xây dựng những hình tượng, nhân vật này là cảm hứng khẳng định, ngợi ca, tự hào… thường kết hợp với thủ pháp cường điệu hóa.Các nhân vật thường được đặt trong bối cảnh không gian rộng lớn, kì vĩ để tôn nổi tấm vóc của nhân vật…

Thứ ba: Ngôn ngữ tác phẩm

Ngôn ngữ thường có tính chất trang trọng, giàu hình ảnh, có tính biểu tượng cao và giàu giá trị gợi cảm. Giọng điệu tác phẩm thường mang âm hưởng hùng tráng, lay động và khích lệ mạnh mẽ tình cảm người đọc…

Thứ tư: Một số thủ pháp nghệ thuật.

Các thủ pháp nghệ thuật thường được tác giả sử dụng là thủ pháp cường điệu, so sánh nhằm khắc họa nổi bật hình ảnh những nhân vật tượng trưng cho phẩm chất cao đẹp và ý chí, khát vọng của cả cộng đồng. Trong truyện Rừng xà nu, cách tổ chức kết cấu kiểu truyện trong truyện, đầu cuối tương ứng (kết cấu vòng tròn) cũng góp phần chuyển tải tư tưởng và cảm hứng sử thi của tác phẩm

Từ năm 1945 đến năm 1954 là thời kỳ chống Pháp của đất nước. Văn học gắn liền với khuynh hướng sử thi, tập trung phản ánh không khí hồ hởi, vui sướng khi đất nước giành độc lập và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Văn học gắn bó với cuộc sống kháng chiến. Cho nên mới có những lời mừng vui:

“Mẹ ! Cao – Lạng hoàn toàn giải phóng Tây bị chết bị bắt sống hàng đàn Vệ quốc quân chiếm lại các đồn Người đông như kiến, súng đầy như củi” ( Dọn về làng_Nông Quốc Chấn)

Đó là thắng lợi của chiến dịch Biên Giới, là niềm vui của nhân dân Cao – Bắc – Lạng. Văn học cũng tập trung khám phá sức mạnh và những phẩm chất tốt đẹp của nhân dân. Cảm hứng chủ đạo của giai đoạn này là cảm hứng lãng mạn. Các nhà văn, nhà thơ luôn hướng vào tương lai, khơi dậy niềm vui, lòng tin tưởng và niềm say mê với con đường cách mạng. Dù gian khổ,dù khó khăn nhưng trong trái tim các chiến sĩ luôn là niềm tự hào dân tộc và niềm tin vào tương lai tất thắng : “Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo”

Hơn nửa văn học còn ngợi ca những đổi thay của đất nước và con người trong bước đầu xây dựng Xã hội chủ nghĩa với cảm hứng lãng mạn. Đó là sự đổi đời của con người, miêu tả sự biến đổi số phận và tính cách nhân vật trong môi trường xã hội mới qua bài thơ “Đất nước”:

“Mùa thu nay khác rồi Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi Gió thổi rừng tre phấp phới Trời thu thay áo mới Trong biếc nói cười thiết tha Trời xanh đây là của chúng ta Núi rừng đây là của chúng ta Những cánh đồng thơm mát Những ngả đường bát ngát Những dòng sông đỏ nặng phù sa” (Đất nước_Nguyễn Đình Thi)

Văn học giai đoạn 1945-1975 đề cao tinh thần yêu nước và ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tập trung phản ánh cuộc sống lao động, khắc họa thành công hình ảnh con người Việt Nam anh dũng, kiên cường, bất khuất. Tác phẩm”Những đứa con trong gia đình” kể chuyện chiến trường mà giống như tái hiện chuyện trong gia đình. Đó là chiến sĩ trẻ Việt với ý chí chiến đấu mạnh mẽ và tình yêu thương hồn nhiên, trong sáng. Đó là chị Chiến biết bao lo toan, nhường nhịn và khôn ngoan. Chị từng khẳng định với Việt:”nếu giặc còn thì tao mất”. Và “Quán rượu người câm” của Nguyễn Quang Sáng đã khắc họa cuộc chiến đấu khóc liệt trong trận Đồng Khởi. Nhân vật chính thường tiêu biểu cho lí tưởng chung của dân tộc, gắn bó sản phẩm mình với sản phẩm đất nước, kết tinh những phẩm chất cao đẹp của cộng đồng. Lời văn mang giọng điệu ngợi ca, trang trọng và đẹp một cách tráng lệ.Cái đẹp của cá nhân là ở ý thức công dân, lẽ sống lớn và tình cảm lớn.

Khuynh hướng sử thi giai đoạn này là khuynh hướng vươn tới những cái lớn lao, phi thường qua những hình ảnh tráng lệ. Ở Tố Hữu, cái tôi trữ tình ban đầu là cái tôi chiến sĩ, về sau là cái tôi nhân danh cộng đồng, nhân dân Đảng và đất nước. Tuy đứng giữa thực tại đầy đau khổ, mất mát, đau thương nhưng tâm hồn họ luôn hướng về tương lai, về lí tưởng.

“Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước Mà lòng phơi phới dậy tương lai”. (Tố Hữu_theo chân Bác)

Trong việc biểu hiện tâm hồn thơ, Tố Hữu luôn hướng đến cái ta chung:

Hồn thơ Tố Hữu luôn hường đến cái ta chung, lẽ sống lớn, niềm vui lớn của dân tộc và của Cách mạng. Cái tôi nếu có là cái tôi của người chiến sĩ, cái tôi nhân danh Đảng và dân tộc. Vì thế có ý nghĩa khái quát, rộng lớn. Cảm hứng thơ Tố Hữu thường bắt đầu từ cảm hứng chính trị, từ những tình cảm lớn cao cả, tiêu biểu: tình yêu lý tưởng, lãnh tụ, đồng bào đồng chí,…. Trong việc miêu tả đời sống, thơ ông luôn mang đậm chất sử thi:

Đối tượng thể hiện chủ yếu trong thơ Tố Hữu là những sự kiện lớn của dân tộc, những vấn đề có ý nghĩa lịch sử, có tình chất toàn dân, những biến cố quan trọng tác động đến vận mệnh dân tộc cảm hứng chủ đạo trong thơ là cảm hứng lịch sử dân tộc, là vận mệnh của cộng đồng. Các nhân vật trữ tình thường mang phẩm chất tiêu biểu cho dân tộc: anh vệ quốc quân, anh giải phóng quân, người mẹ Việt Nam anh hùng….

Để dẫn ra một tác phẩm tiêu biểu có thể minh hoạ cho sự tồn tại của “nền văn học sử thi” trong văn học Việt Nam 1945 – 1975, tưởng không có tác phẩm nào tiêu biểu hơn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành. Quả đây là một truyện ngắn mang đậm tính sử thi và cảm hứng lãng mạn. Tính sử thi của Rừng xà nu được biểu lộ trước hết ở những sự kiện có tính chất toàn dân được nhắc tới. Những chuyện xảy ra với làng Xô Man hoàn toàn không có ý nghĩa cá biệt. Chúng là chuyện chung của cả Tây Nguyên, cả miền Nam, cả nước trong những ngày chiến đấu chống đế quốc Mĩ.

Tính sử thi của Rừng xà nu còn thể hiện ở giọng văn tha thiết, trang trọng mà tác giả đã sử dụng khi kể về sự tích của làng Xô Man. Giọng văn ấy cũng thấm đượm trong việc miêu tả thiên nhiên, khiến cho hình ảnh rừng xà nu bỗng thổi tới trong lòng người đọc một cảm giác say sưa.

Sống giữa chiến tranh khốc liệt,luôn phải đối mặt với hy sinh mất mát song những người chiến sĩ vẫn ngời sáng phẩm chất anh hùng cách mạng,họ tuyệt đối tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng và tìm thấy niềm vui,sự lạc quan từ chính thực tại cuộc sống như nhà văn Anh Đức đã nói:”nơi dòng đời chảy xiết, nơi máu đổ, nơi tình huống khó khăn gian khổ nhưng lại là nơi có thể viết nên những trang đẹp nhất”.

Cảm hứng lãng mạn đã khẳng định cái tôi đầy cảm xúc và hướng tới lí tưởng, ca ngợi con người mới, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc.

Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn làm cho văn học giai đoạn này thấm nhuần tinh thần lạc quan và đáp ứng được yêu cầu phản ánh hiện thực đời sống trong quá trình vận động và phát triển của cách mạng. Suốt ba mươi năm văn học luôn là tiếng kèn xung trận, tiếng trống thúc quân góp phần làm nên chiến thắng vẻ vang của dân tộc trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ cứu nước.

Khuynh Hướng Sử Thi Và Cảm Hứng Lãng Mạn Trong Văn Học Việt Nam Giai Đoạn 1945

Trước hết cần giải thích được về khái niệm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.

Khuynh hướng sử thi được hiểu là những tình cảm, cảm xúc tự hào , ngợi ca của tác giả về những vấn đề lớn lao quyết định vận mệnh chung của cộng đồng. Đây là cảm hứng chi phối mạnh mẽ đến các sáng tác của các thi nhân trong thời kỳ kháng chiến , đặc biệt là cuộc kháng chiến chống Mỹ.Tác phẩm viết theo khuynh hướng sử thi là tác phẩm đề cập đến những đề tài có ý nghĩa lịch sử và mang tính dân tộc.Nhân vật chính là những người tiêu biểu cho lí tưởng và phẩm chất cộng đồng,và chiến đấu vì cộng đồng.Sử thi thì mang ý nghĩa lịch sử còn cảm hứng lãng mạn lại mang nội dung trữ tình sôi nổi, dạt dào và hướng về lý tưởng, hướng về tương lai.Cảm hứng lãng mạn không chỉ sôi nổi trong thơ mà cả trong văn xuôi.Từ tiểu thuyết, truyện ngắn đến bút kí,tuỳ bút và cả kịch bản sân khấu đều rất giàu chất thơ.Hướng vận động của cốt truyện, số phận nhân vật, dòng cảm nghĩ của tác giả hầu như đều đi từ bóng tối ra ánh sáng, từ gian khổ đến niềm vui, từ hiện tại đến tương lai đầy hứa hẹn.Cảm hứng lãng mạn đó là cách nhìn thế giới mang đậm dấu ấn chủ quan, đầy mơ ước.Có khi đó là sự mơ ước bay bổng hướng tới cái chưa có trong thực tế bằng niềm tin,sự lạc quan.Có khi đó là những rung động về lí tưởng cao đẹp,khát vọng lớn lao của những con người có chí hướng,hoài bão cao cả…Văn học 1945-1975 đã thể hiện những cảm xúc lãng mạn tích cực đó.Hiện thực chiến tranh khốc liệt, phải đương đầu với hai kẻ thù hùng mạnh,một nửa đất nước tiến lên con đường Chủ nghĩa xã hội từ đôi tay trắng, phải “Dọn tí phân rơi nhặt từng mẩu lá” để “dựng cơ đồ”(Tố Hữu).Con người muốn đứng vững,vượt qua hiện thực ấy cần phải có niềm tin và tâm hồn lãng mạn.

Nền văn học 1945-1975 phát triển, vận động theo chặng đường lịch sử của dân tộc. Chính khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn đã làm cho văn xuôi tự sự gần với thơ ca và thơ ca giàu yếu tố tự sự. Vì vậy văn học bám sát vào cuộc sống hiện thực hơn.Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn được biểu hiện ở các phương diện sau:

Thứ hai: trong việc xây dựng hình tượng.

Các nhân vật, hình tượng trong các tác phẩm mang cả hứng sử thi, dù là những con người bình dị, thuộc nhiều tầng lớp, lứa tuổi, thành phần dân tộc… đều mang trong mình những phẩm chất anh hùng, thể hiện tầm vóc lớn lao, kết tụ sức mạnh, ý chí chung của cả cộng đồng. Đó là những Tnú, cụ Mết và dân làng Xô man, là hình ảnh đoàn quân hừng hực khí thế trong Việt Bắc: “Những đường Việt Bắc của ta…Đèn pha bật sáng như ngày mai lên”. Cảm hứng chủ đạo khi xây dựng những hình tượng, nhân vật này là cảm hứng khẳng định, ngợi ca, tự hào… thường kết hợp với thủ pháp cường điệu hóa.Các nhân vật thường được đặt trong bối cảnh không gian rộng lớn, kì vĩ để tôn nổi tấm vóc của nhân vật…

Thứ ba: Ngôn ngữ tác phẩm

Ngôn ngữ thường có tính chất trang trọng, giàu hình ảnh, có tính biểu tượng cao và giàu giá trị gợi cảm. Giọng điệu tác phẩm thường mang âm hưởng hùng tráng, lay động và khích lệ mạnh mẽ tình cảm người đọc…

Thứ tư: Một số thủ pháp nghệ thuật.

Các thủ pháp nghệ thuật thường được tác giả sử dụng là thủ pháp cường điệu, so sánh nhằm khắc họa nổi bật hình ảnh những nhân vật tượng trưng cho phẩm chất cao đẹp và ý chí, khát vọng của cả cộng đồng. Trong truyện Rừng xà nu, cách tổ chức kết cấu kiểu truyện trong truyện, đầu cuối tương ứng (kết cấu vòng tròn) cũng góp phần chuyển tải tư tưởng và cảm hứng sử thi của tác phẩm

Từ năm 1945 đến năm 1954 là thời kỳ chống Pháp của đất nước. Văn học gắn liền với khuynh hướng sử thi, tập trung phản ánh không khí hồ hởi, vui sướng khi đất nước giành độc lập và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Văn học gắn bó với cuộc sống kháng chiến. Cho nên mới có những lời mừng vui:

“Mẹ ! Cao – Lạng hoàn toàn giải phóng

Tây bị chết bị bắt sống hàng đàn

Vệ quốc quân chiếm lại các đồn

Người đông như kiến, súng đầy như củi”

( Dọn về làng_Nông Quốc Chấn)

Đó là thắng lợi của chiến dịch Biên Giới, là niềm vui của nhân dân Cao – Bắc – Lạng. Văn học cũng tập trung khám phá sức mạnh và những phẩm chất tốt đẹp của nhân dân. Cảm hứng chủ đạo của giai đoạn này là cảm hứng lãng mạn. Các nhà văn, nhà thơ luôn hướng vào tương lai, khơi dậy niềm vui, lòng tin tưởng và niềm say mê với con đường cách mạng. Dù gian khổ,dù khó khăn nhưng trong trái tim các chiến sĩ luôn là niềm tự hào dân tộc và niềm tin vào tương lai tất thắng : “Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo”

Hơn nửa văn học còn ngợi ca những đổi thay của đất nước và con người trong bước đầu xây dựng Xã hội chủ nghĩa với cảm hứng lãng mạn. Đó là sự đổi đời của con người, miêu tả sự biến đổi số phận và tính cách nhân vật trong môi trường xã hội mới qua bài thơ “Đất nước”:

“Mùa thu nay khác rồi

Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi

Gió thổi rừng tre phấp phới

Trời thu thay áo mới

Trong biếc nói cười thiết tha

Trời xanh đây là của chúng ta

Núi rừng đây là của chúng ta

Những cánh đồng thơm mát

Những ngả đường bát ngát

Những dòng sông đỏ nặng phù sa”

(Đất nước_Nguyễn Đình Thi)

Rồi một ngòi bút như Nguyễn Khải và sự cảm thông với số phận thiệt thòi, với khao khát của những người phụ nữ như Đào trong “Mùa lạc”. Qua đó khẳng định hạnh phúc hiện hình từ những hi sinh gian khổ của ngày hôm qua và hôm nay, từ bàn tay lao động trong cuộc sống xây dựng mới. Đồng thời mỗi người cần có đủ sức mạnh, dũng khí để vượt qua những trở ngại, ranh giới đó cũng như Đào cuối cùng cũng đã xây đắp cuộc sống mới với ông Dịu.

Văn học giai đoạn 1945-1975 đề cao tinh thần yêu nước và ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tập trung phản ánh cuộc sống lao động, khắc họa thành công hình ảnh con người Việt Nam anh dũng, kiên cường, bất khuất. Tác phẩm”Những đứa con trong gia đình” kể chuyện chiến trường mà giống như tái hiện chuyện trong gia đình. Đó là chiến sĩ trẻ Việt với ý chí chiến đấu mạnh mẽ và tình yêu thương hồn nhiên, trong sáng. Đó là chị Chiến biết bao lo toan, nhường nhịn và khôn ngoan. Chị từng khẳng định với Việt:”nếu giặc còn thì tao mất”. Và “Quán rượu người câm” của Nguyễn Quang Sáng đã khắc họa cuộc chiến đấu khóc liệt trong trận Đồng Khởi. Nhân vật chính thường tiêu biểu cho lí tưởng chung của dân tộc, gắn bó sản phẩm mình với sản phẩm đất nước, kết tinh những phẩm chất cao đẹp của cộng đồng. Lời văn mang giọng điệu ngợi ca, trang trọng và đẹp một cách tráng lệ.Cái đẹp của cá nhân là ở ý thức công dân, lẽ sống lớn và tình cảm lớn.

Khuynh hướng sử thi giai đoạn này là khuynh hướng vươn tới những cái lớn lao, phi thường qua những hình ảnh tráng lệ. Ở Tố Hữu, cái tôi trữ tình ban đầu là cái tôi chiến sĩ, về sau là cái tôi nhân danh cộng đồng, nhân dân Đảng và đất nước. Tuy đứng giữa thực tại đầy đau khổ, mất mát, đau thương nhưng tâm hồn họ luôn hướng về tương lai, về lí tưởng.

“Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước

Mà lòng phơi phới dậy tương lai”.

(Tố Hữu_theo chân Bác)

Trong việc biểu hiện tâm hồn thơ, Tố Hữu luôn hướng đến cái ta chung:

Hồn thơ Tố Hữu luôn hường đến cái ta chung, lẽ sống lớn, niềm vui lớn của dân tộc và của Cách mạng. Cái tôi nếu có là cái tôi của người chiến sĩ, cái tôi nhân danh Đảng và dân tộc. Vì thế có ý nghĩa khái quát, rộng lớn. Cảm hứng thơ Tố Hữu thường bắt đầu từ cảm hứng chính trị, từ những tình cảm lớn cao cả, tiêu biểu: tình yêu lý tưởng, lãnh tụ, đồng bào đồng chí,….

Trong việc miêu tả đời sống, thơ ông luôn mang đậm chất sử thi:

Đối tượng thể hiện chủ yếu trong thơ Tố Hữu là những sự kiện lớn của dân tộc, những vấn đề có ý nghĩa lịch sử, có tình chất toàn dân, những biến cố quan trọng tác động đến vận mệnh dân tộc cảm hứng chủ đạo trong thơ là cảm hứng lịch sử dân tộc, là vận mệnh của cộng đồng. Các nhân vật trữ tình thường mang phẩm chất tiêu biểu cho dân tộc: anh vệ quốc quân, anh giải phóng quân, người mẹ Việt Nam anh hùng….

Để dẫn ra một tác phẩm tiêu biểu có thể minh hoạ cho sự tồn tại của “nền văn học sử thi” trong văn học Việt Nam 1945 – 1975, tưởng không có tác phẩm nào tiêu biểu hơn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành. Quả đây là một truyện ngắn mang đậm tính sử thi và cảm hứng lãng mạn. Tính sử thi của Rừng xà nu được biểu lộ trước hết ở những sự kiện có tính chất toàn dân được nhắc tới. Những chuyện xảy ra với làng Xô Man hoàn toàn không có ý nghĩa cá biệt. Chúng là chuyện chung của cả Tây Nguyên, cả miền Nam, cả nước trong những ngày chiến đấu chống đế quốc Mĩ.

Biểu hiện thứ hai của tính sử thi trong Rừng xà nu là truyện ngắn đã xây dựng thành công hình tượng một tập thể anh hùng. Những anh hùng được kể tới trong đó đều có tính đại diện cao, mang trong mình hình ảnh của cả một dân tộc. Tập thể anh hùng trong Rừng xà nu là tập thể đa dạng về lứa tuổi và giới tính từ cụ Mết, Tnú, Mai, Dít đến bé Heng. Mỗi gương mặt anh hùng đều có những nét riêng, thể hiện một số phận riêng trong cuộc đời chung. Tất cả họ đều giống nhau ở những phẩm chất cơ bản : gan dạ, trung thực, một lòng một dạ đi theo cách mạng. Biểu hiện thứ ba của tính sử thi ở truyện ngắn Rừng xà nu là nó đã miêu tả các sự kiện, các nhân vật anh hùng từ một cái nhìn chiêm ngưỡng, khâm phục.

Tính sử thi của Rừng xà nu còn thể hiện ở giọng văn tha thiết, trang trọng mà tác giả đã sử dụng khi kể về sự tích của làng Xô Man. Giọng văn ấy cũng thấm đượm trong việc miêu tả thiên nhiên, khiến cho hình ảnh rừng xà nu bỗng thổi tới trong lòng người đọc một cảm giác say sưa.

Sống giữa chiến tranh khốc liệt,luôn phải đối mặt với hy sinh mất mát song những người chiến sĩ vẫn ngời sáng phẩm chất anh hùng cách mạng,họ tuyệt đối tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng và tìm thấy niềm vui,sự lạc quan từ chính thực tại cuộc sống như nhà văn Anh Đức đã nói:”nơi dòng đời chảy xiết, nơi máu đổ, nơi tình huống khó khăn gian khổ nhưng lại là nơi có thể viết nên những trang đẹp nhất”.

Cảm hứng lãng mạn đã khẳng định cái tôi đầy cảm xúc và hướng tới lí tưởng, ca ngợi con người mới, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc.

Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn làm cho văn học giai đoạn này thấm nhuần tinh thần lạc quan và đáp ứng được yêu cầu phản ánh hiện thực đời sống trong quá trình vận động và phát triển của cách mạng. Suốt ba mươi năm văn học luôn là tiếng kèn xung trận, tiếng trống thúc quân góp phần làm nên chiến thắng vẻ vang của dân tộc trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ cứu nước.

Nguồn: blog.zing.vn

Cảm Hứng Sử Thi Là Gì ?

– Con người sử thi trong tư thế nhân danh đại diện cái ta cộng đồng, tiếng nói của cái tôi trữ tình có

Sử thi vốn là một khái niệm dùng để chỉ một thể loại hoặc một loại hình nội dung văn học thường xuất hiện trong những giai đoạn lịch sử nhất định. Thường xây dựng hình tượng ở thang giá trị cao nhất, đẹp nhất, hoàn hảo nhất, nên sự thể hiện cái tôi sử thi luôn ở tâm thế ngưỡng mộ, sùng kính. Lời nói của sử thi là lời của nhân dân, lời của cộng đồng, lời đầu tiên và cũng là lời kết luận cuối cùng… Sau này, những đặc trưng cơ bản của sử thi dần biến đổi, từ khái niệm sử thi – thể loại văn học, giới nghiên cứu văn học đã đưa ra khái niệm văn học sử thi. Văn học sử thi không thuộc thể loại sử thi, nhưng chứa đựng những đặc điểm cơ bản của sử thi. Nghĩa là cái tôi trữ tình sử thi vừa phải mang đặc tính loại hình (sử thi) vừa phải mang đặc trưng loại thể (trữ tình). Không lặp lại sử thi cổ đại, nhưng nguyên tắc sử thi vẫn được các nhà nghiên cứu vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo vào phạm trù văn học hiện đại. Sự biến đổi của thể loại sử thi đã được tiểu thuyết hiện đại tiếp nhận để hình thành một thể loại mới: “Tiểu thuyết sử thi”. Văn học sử thi hướng tới cái chung, cái cao cả, sự kiện lịch sử, số phận toàn dân, chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nó thường phản ánh những sự kiện có ý nghĩa lịch sử và có tính cách toàn dân. Sử thi không phải là những số phận cá nhân mà là tiếng nói của cộng đồng, của dân tộc trước thử thách quyết liệt. Nhân vật trung tâm không đại diện cho con người cá nhân, mà đại diện cho giai cấp, dân tộc, thời đại với tính cách dường như kết tinh đầy đủ những phẩm chất cao quý của cộng đồng. Con người sống chủ yếu với hiện tại và tương lai.2. Biểu hiện của tính Sử thi trong văn học Việt Nam 1945 – 1975 – Cái tôi “bám sát các sự kiện, biến cố lịch sử không thể là một cái tôi nào khác ngoài cái tôi công dân ý thức được mình là một phần của sự vận động lịch sử”. Một mặt, cái tôi sử thi đại diện cho tiếng nói của dân tộc, lương tri của nhân loại, ngợi ca đất nước, biểu dương những con người anh hùng, mặt khác lại vạch mặt, lên án, chất vấn, truy kích, tố cáo kẻ thù. Cái tôi sử thi còn được biểu hiện trong sự tự nhận thức, phát hiện và tự thể hiện của dân tộc và nhân dân qua tiếng nói của người đại diện là nhà thơ, nhà văn. – Cái nhìn sử thi là cái nhìn hoành tráng; điểm nhìn sử thi là hiện thực được phóng chiếu trên cái nền rộng lớn của những chiều kích vĩ mô; cảm xúc sử thi là “cảm xúc ở trạng thái đỉnh điểm, cao trào” đồng thời “tư duy sử thi đòi hỏi một tinh thần làm cốt lõi” . Chính với những đặc điểm này, tinh thần yêu nước, hành động anh hùng, phẩm chất ngời sáng thông qua sự thể hiện của cái tôi trữ tình sử thi đã mang tầm vóc khái quát: đó là chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng. – Sức mạnh toàn dân tộc được soi chiếu bởi tầm nhìn sử thi. Sự nghiệp anh hùng trong những năm tháng hào hùng thời đánh Mỹ được nhà thơ Chế Lan Viên khái quát, cùng niềm tự hào “Ta đánh giặc suốt ba mươi năm trời chẳng cần có ai thay-Cả dân tộc không một ai làm quân dự bị” (Ngày vĩ đại). Cái nhìn sử thi với một thế giới bổ đôi rạch ròi khiến các nhà thơ không thừa nhận kẻ thù là người, mà là một loại thú vật phi nhân tính. “Thú vật hoá” kẻ thù được vận dụng như một biện pháp nghệ thuật tiêu biểu.sức âm vang của tiếng nói chung, có sức thuyết phục của chân lý phổ quát.

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đang xem bài viết Khuynh Hướng Sử Thi Và Cảm Hứng Lãng Mạn trên website Tvzoneplus.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!