Xem Nhiều 6/2023 #️ Lưu Ý Về Người Đại Diện Theo Pháp Luật Của Doanh Nghiệp # Top 12 Trend | Tvzoneplus.com

Xem Nhiều 6/2023 # Lưu Ý Về Người Đại Diện Theo Pháp Luật Của Doanh Nghiệp # Top 12 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Lưu Ý Về Người Đại Diện Theo Pháp Luật Của Doanh Nghiệp mới nhất trên website Tvzoneplus.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Thứ nhất, trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật

Tại Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2020 thì người đại diện theo pháp luật có những trách nhiệm sau đây:

Thực hiện quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp;

Trung thành với lợi ích của doanh nghiệp; không lạm dụng địa vị, chức vụ và sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh, tài sản khác của doanh nghiệp để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác;

Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chịu trách nhiệm cá nhân đối với thiệt hại cho doanh nghiệp do vi phạm trách nhiệm nêu trên.

Thứ hai, quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật

Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp giữ chức danh Giám đốc hoặc Tổng giám đốc thì họ có các quyền và nghĩa vụ cơ bản sau:

Tổ chức thực hiện các nghị quyết của Chủ tịch công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị;

Tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư của công ty;

Ban hành quy chế quản lý nội bộ của công ty, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác;

Bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh quản lý trong công ty, trừ các chức danh thuộc thẩm quyền của Chủ tịch công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị;

Ký kết hợp đồng nhân danh công ty, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của Chủ tịch công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị;

Kiến nghị phương án cơ cấu tổ chức công ty;

Trình báo cáo quyết toán tài chính hằng năm lên Chủ tịch công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị;

Kiến nghị phương án sử dụng lợi nhuận hoặc xử lý lỗ trong kinh doanh;

Tuyển dụng lao động;

Quyền và nghĩa vụ khác được quy định tại Điều lệ công ty, hợp đồng lao động mà Người đại diện theo pháp luật ký với Chủ tịch công ty, ký với công ty theo nghị quyết của Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị.

Tuy nhiên tùy thuộc vào cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động của từng loại hình doanh nghiệp thì Chủ tịch công ty, Chủ tịch hội đồng thành viên, Chủ tịch hội đồng quản trị sẽ kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Đối với các chức danh kiêm nhiệm như vậy ngoài quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật giữ chức danh Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Những người này còn quyền và nghĩa vụ của Chủ tịch công ty, Chủ tịch hội đồng thành viên, Chủ tịch hội đồng quản trị do Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị bầu ra, họ có các quyền và nghĩa vụ cơ bản sau:

Chuẩn bị chương trình, kế hoạch hoạt động của Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị;

Chuẩn bị chương trình, nội dung, tài liệu họp Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị;

Triệu tập và chủ trì cuộc họp Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị;

Giám sát hoặc tổ chức giám sát việc thực hiện các nghị quyết của Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị;

Thay mặt Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị ký các nghị quyết của Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị;

Quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 và Điều lệ công ty.

Thứ ba, cá nhân bị hạn chế không được làm người đại diện theo pháp luật của nhiều doanh nghiệp

Luật doanh nghiệp hiện nay không có quy định nào cấm một người có thể đại diện theo pháp luật của nhiều doanh nghiệp trừ trường hợp sau:

Các trường hợp thuộc khoản 2 điều 17 Luật Doanh nghiệp 2020.

Cá nhân là đại diện theo pháp luật của một doanh nghiệp, tuy nhiên trong quá trình hoạt động doanh nghiệp không báo cáo thuế, không hoàn thành nghĩa vụ đóng thuế. Doanh nghiệp không hoạt động nhưng không thực hiện thủ tục thông báo tạm ngừng hoạt động với cơ quan đăng ký kinh doanh và bỏ trôi doanh nghiệp.

Hiện nay, sau khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp cơ quan đăng ký kinh doanh sẽ gửi thông tin sang cơ quan thuế đề nghị cấp mã số thuế cho doanh nghiệp. Khi tổng cục thuế tiến hành tra cứu theo các thông tin chứng thực cá nhân, cá nhân đã là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp không hoàn thành nghĩa vụ thuế thì không thể đứng tên thành lập công ty mới. Theo đó, cơ quan thuế sẽ từ chối cấp mã số thuế cho doanh nghiệp.

Thứ tư, một số lưu ý khác về người đại diện theo pháp luật.

Lưu ý về nơi cư trú: doanh nghiệp phải bảo đảm luôn có ít nhất một người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam. Trường hợp doanh nghiệp chỉ có một người đại diện theo pháp luật thì người đó phải cư trú ở Việt Nam và phải ủy quyền bằng văn bản cho người khác thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật khi xuất cảnh khỏi Việt Nam. Nếu hết thời hạn ủy quyền mà người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chưa trở lại Việt Nam và không có ủy quyền khác, người được ủy quyền vẫn tiếp tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Trong phạm vi đã được ủy quyền cho đến khi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp trở lại làm việc, hoặc cho đến khi chủ sở hữu công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị quyết định cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp chỉ có một người đại diện theo pháp luật và người này vắng mặt tại Việt Nam quá 30 ngày mà không ủy quyền cho người khác thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Hoặc bị chết, mất tích, tạm giam, kết án tù, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì chủ sở hữu công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của công ty.

Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên, nếu có thành viên là cá nhân làm người đại diện theo pháp luật của công ty: chết, mất tích, đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù. Hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc, trốn khỏi nơi cư trú, bị hạn chế. Hoặc mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Hoặc bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Theo đó, thành viên còn lại đương nhiên làm người đại diện theo pháp luật của công ty cho đến khi có quyết định mới của Hội đồng thành viên về người đại diện theo pháp luật của công ty.

Mọi khó khăn, vướng mắc về người đại diện theo pháp luật của công ty Quý khách hàng vui lòng liên hệ hoặc gửi email để được Luật Việt An hỗ trợ nhanh nhất và kịp thời nhất!

Người Đại Diện Theo Pháp Luật Của Doanh Nghiệp

Luật Doanh nghiệp (LDN) năm 2014 được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2014 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2015, với những cải cách mạnh mẽ và sâu rộng, đặc biệt là cải cách về người đại diện theo pháp luật đã tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc tiến hành các hoạt động kinh doanh và tiệm cận hơn với các chuẩn mực của quốc tế[1]. Tuy nhiên, qua hơn 3 năm đi vào cuộc sống, quy định trên đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập nhất định. Vì vậy, chúng tôi đi sâu phân tích làm rõ những thực trạng đó và đưa ra một số đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp trong LDN năm 2014.

Khảo sát quy định về người đại diện theo pháp luật của một số nước trên thế giới, chúng ta có thể khẳng định thuật ngữ “người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp” mang những nội dung khác nhau, tùy thuộc vào pháp luật của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, tựu chung lại thì pháp luật của các nước vẫn có điểm giao thoa nhau về khái niệm người đại diện theo pháp luật, đó là người được doanh nghiệp chỉ định để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn nhân danh doanh nghiệp.

1.2. Quy định về số lượng người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

Pháp luật một số nước tiên tiến trên thế giới như Anh[8], Pháp, Thụy Sĩ, Đức, Úc, Hoa Kỳ, Singapore,… đều cho phép một công ty có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật. Điển hình như, LDN của Úc và Luật CTTNHH của Đức đều cùng quy định Giám đốc là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp và một doanh nghiệp có thể có nhiều Giám đốc[9] (tức là một doanh nghiệp có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật). Ở Hoa Kỳ, những người điều hành là người đại diện theo pháp luật của công ty trong phạm vi thẩm quyền được giao bao gồm: Tổng Giám đốc, Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Giám đốc tài chính,… những người đại diện theo pháp luật này sẽ điều hành các công việc hàng ngày của công ty theo lĩnh vực được phân công.[10] Còn ở Singapore, công ty có Ban Giám đốc, từng Giám đốc (như Giám đốc điều hành – CEO, Giám đốc nhân sự, Giám đốc bán hàng,…) đều có quyền đại diện cho công ty về những vấn đề trong phạm vi, quyền hạn của họ và phải có ít nhất một Giám đốc thường trú tại quốc gia sở tại.[11]

Ở Việt Nam, số lượng người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp tư nhân (DNTN) và Công ty hợp danh (CTHD) trong LDN năm 2014 không có gì thay đổi so với LDN năm 2005, đó là chủ DNTN vẫn là người đại diện duy nhất theo pháp luật của DNTN[12], còn tất cả các thành viên hợp danh là người đại diện theo pháp luật của CTHD[13]. Tuy nhiên, LDN năm 2014 đã tháo gỡ sự bế tắc cho hoạt động của các doanh nghiệp, nhất là đối với những công ty lớn, có số lượng nhân viên đông và có cơ sở kinh doanh ở nhiều tỉnh thành khi quy định CTTNHH và Công ty cổ phần (CTCP) có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật, với điều kiện là điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.[14]

Quy định trên tuy là một trong những điểm mới mang tính đột phá của LDN năm 2014, nhưng xét ở góc độ kỹ thuật lập pháp thì vẫn còn chưa hợp lý khi được đặt ở phần quy định chung, nên sẽ dẫn đến cách hiểu là chỉ có CTTNHH và CTCP mới có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật, còn các loại hình doanh nghiệp còn lại sẽ không được có nhiều người đại diện theo pháp luật. Tuy nhiên, CTHD luôn có ít nhất từ hai người đại diện theo pháp luật trở lên và tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty[15].

1.3. Quy định về điều kiện cư trú của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

LDN năm 2014 quy định đối với doanh nghiệp chỉ có một người đại diện theo pháp luật và người này vắng mặt tại Việt Nam quá 30 ngày mà không ủy quyền cho người khác thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp thì chủ sở hữu công ty, Hội đồng thành viên (HĐTV), Hội đồng quản trị (HĐQT) cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp[16]. Đối với CTTNHH có hai thành viên trở lên, nếu người đại diện theo pháp luật của công ty trốn khỏi nơi cư trú thì thành viên còn lại đương nhiên làm người đại diện theo pháp luật của công ty cho đến khi có quyết định mới của HĐTV về người đại diện theo pháp luật của công ty[17]. Quy định này nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp không bị trống chỗ người đại diện theo pháp luật quá lâu, vì sẽ gây cản trở cho các hoạt động của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, LDN quy định doanh nghiệp phải bảo đảm luôn có ít nhất một người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam và nếu doanh nghiệp chỉ có một người đại diện theo pháp luật, thì khi xuất cảnh mới thực hiện việc ủy quyền nêu trên là chưa được đầy đủ. LDN bắt buộc đối với doanh nghiệp có nhiều người đại diện theo pháp luật, thì nhất thiết phải có một người cư trú tại Việt Nam. Thế nhưng, vì một lý do nào đó mà tất cả người đại diện theo pháp luật xuất cảnh, thì doanh nghiệp lại không được phép ủy quyền hoặc nếu có ủy quyền đi chăng nữa mà thời hạn ủy quyền đã hết, thì cũng không được phép kéo dài thời hạn như trường hợp chỉ có một người đại diện theo pháp luật. Trong khi doanh nghiệp có nhiều người đại diện theo pháp luật và có thể mỗi người chỉ được phân công thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn nhất định theo Điều lệ công ty quy định. Như vậy, trong cùng một tình huống hoàn toàn tương tự nhau nhưng LDN năm 2014 lại quy định không thống nhất với nhau, tạo ra sự không bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp.

1.5. Sự mâu thuẫn giữa khoản 6 với khoản 1 Điều 13 LDN năm 2014 và không phù hợp với Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017

Theo quy định tại khoản 6 Điều 13 LDN năm 2014 thì: “Đối với CTTNHH có hai thành viên, nếu có thành viên là cá nhân làm người đại diện theo pháp luật của công ty bị tạm giam, kết án tù, trốn khỏi nơi cư trú, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị Tòa án tước quyền hành nghề vì phạm tội buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép, trốn thuế, lừa dối khách hàng và tội khác theo quy định của Bộ luật hình sự (BLHS) thì thành viên còn lại đương nhiên làm người đại diện theo pháp luật của công ty cho đến khi có quyết định mới của HĐTV về người đại diện theo pháp luật của công ty”. Quy định này cho thấy, đối với CTTNHH có hai thành viên trở lên có thể có “thành viên là tổ chức” làm người đại diện theo pháp luật của công ty, trong khi đó khái niệm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp quy định tại khoản 1 Điều 13 LDN năm 2014 thì chỉ có “cá nhân” mới được làm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Ngoài ra, điều luật còn liệt kê các tội danh một cách cụ thể như tội buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép, trốn thuế, lừa dối khách hàng sẽ dễ dàng khi áp dụng. Ngược lại, khi BLHS bổ sung hoặc bãi bỏ một tội danh như BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã bỏ tội “kinh doanh trái phép” thì việc liệt kê các tội danh như trên sẽ không còn phù hợp. Còn đối với “tội khác theo quy định của BLHS” thì đó có phải là các tội phạm còn lại được quy định trong BLHS không, nếu đúng như vậy thì có vẻ việc liệt kê các tội danh như trên lại tỏ ra thừa trong khi đã có quy định “quét” tất cả các tội danh. Có thể lý giải cho quy định này là nhằm mục đích nhấn mạnh các hành vi mà doanh nghiệp thường vi phạm, nhưng dù sao đi nữa việc quy định như vậy vẫn là một sự hạn chế của điều luật.

1.6. Sự không thống nhất trong quy định về người đại diện đương nhiên giữa CTTNHH một thành viên với CTTNHH hai thành viên trở lên

LDN năm 2014 cũng quy định những chức danh quản lý đương nhiên hoặc trường hợp doanh nghiệp chỉ có một người đại diện theo pháp luật của công ty. Chẳng hạn, đối với CTTNHH một thành viên, trong trường hợp Điều lệ công ty không quy định thì Chủ tịch HĐTV hoặc Chủ tịch công ty là người đại diện theo pháp luật.[22] Thế nhưng, cũng cùng là một loại hình doanh nghiệp nhưng CTTNHH hai thành viên trở lên thì lại không có quy định, trong khi đó Điều lệ và Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh lại thể hiện thông tin về người đại diện theo pháp luật. Mặt khác, LDN năm 2014 còn quy định quyền và nghĩa vụ của Giám đốc, Tổng Giám đốc được “ký kết hợp đồng nhân danh công ty, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Hội đồng thành viên”.[23] Như vậy, theo logic suy nghĩ có thể hiểu, trong CTTNHH hai thành viên trở lên thì Giám đốc, Tổng Giám đốc hoặc Chủ tịch HĐTV là một trong hai chủ thể có thể làm người đại diện theo pháp luật. Cho nên, để đảm bảo thống nhất trong việc áp dụng pháp luật, theo chúng tôi cần quy định bổ sung về trường hợp này vào LDN năm 2014.

1.7. Bảo vệ quyền lợi của bên thứ ba khi xác lập giao dịch với doanh nghiệp có nhiều người đại diện theo pháp luật

Khi một công ty có nhiều người đại diện theo pháp luật thì sự phân công thẩm quyền đại diện giữa những người này sẽ như thế nào. Chẳng hạn, đối với CTHD thì các thành viên hợp danh phân công nhau quản lý và kiểm soát trong hoạt động kinh doanh[24], còn CTTNHH và CTCP thì sự phân công quyền và nghĩa vụ của những người đại diện theo pháp luật sẽ được quy định cụ thể trong điều lệ của công ty[25]. Tuy nhiên, trong trường hợp nếu không xác định được cụ thể phạm vi đại diện theo Điều lệ thì người đại diện theo pháp luật mới được quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch theo khoản 2 Điều 141 BLDS năm 2015. Mặc dù, Điều lệ là văn bản ghi nhận rõ nhất các chức danh quản lý, cũng như quyền và nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật, nhưng đây cũng chỉ là văn bản mang tính nội bộ và không phải là nội dung bắt buộc phải thông báo công khai[26]. Ngoài ra, chưa kể đến việc Điều lệ có thể thay đổi theo thời gian và nội dung dài nên có thể một số nội dung thay đổi mà bên thứ ba khó có thể kiểm chứng và xác định được tư cách đại diện của người đại diện theo pháp luật. Cho nên, rất dễ dẫn đến trường hợp giao dịch với người không có thẩm quyền đại diện hoặc người có thẩm quyền đại diện nhưng đã bị thay đổi, chấm dứt, từ đó sẽ dẫn đến những rủi ro do giao dịch vô hiệu mang lại.

– Thứ hai, cần sửa đổi thuật ngữ “người quản lý doanh nghiệp” để không mâu thuẫn với quy định tại Điều 55 và Điều 182 LDN năm 2014 như đã phân tích trên. Trong thời gian tới, khi sửa đổi LDN năm 2014 các nhà làm luật cần xây dựng khái niệm người quản lý doanh nghiệp sao cho phù hợp với cơ cấu tổ chức của từng mô hình doanh nghiệp và không mâu thuẫn với các điều luật còn lại của LDN. Và có thể tham khảo khái niệm người quản lý doanh nghiệp của LDN năm 2005[35], vì LDN năm 2005 đã tính toán hợp lý đến cơ cấu tổ chức của từng mô hình doanh nghiệp để xây dựng thuật ngữ người quản lý doanh nghiệp khá chính xác và không mâu thuẫn với các điều luật còn lại của LDN.

– Thứ ba, việc tách ra thành hai khoản (khoản 8 và khoản 9 Điều 24 LDN năm 2014) tạo cho người đọc sự hiểu nhầm là có sự khác nhau giữa hai khoản và cũng vừa tạo nên sự kém súc tích trong một văn bản luật. Vì vậy, theo chúng tôi nên gộp chung quy định tại khoản 8 và khoản 9 Điều 24 LDN năm 2014 thành một khoản như sau: “Họ, tên, chữ ký, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp “. Việc gộp chung và chỉ ghi “người đại diện theo pháp luật” là phù hợp, vì chủ DNTN và TVHD của CTHD cũng đều là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

– Thứ tư, LDN năm 2014 không quy định người đại diện theo pháp luật đương nhiên của doanh nghiệp đối với CTTNHH hai thành viên trở lên. Trong khi đó, cũng cùng một loại hình doanh nghiệp là CTTNHH một thành vên và CTCP lại có quy định về trường hợp người đại diện theo pháp luật đương nhiên[36]. Do vậy, cần bổ sung quy định về người đại diện theo pháp luật đương nhiên của CTTNHH hai thành viên trở lên vào Điều 55 LDN năm 2014 theo hướng như sau: “Trong trường hợp Điều lệ công ty không quy định thì Chủ tịch HĐTV hoặc Giám đốc, Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật”. Việc quy định các chức danh Chủ tịch HĐTV hoặc Giám đốc, Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật đương nhiên là phù hợp với quy định tại Điều 55 LDN năm 2014 về cơ cấu tổ chức quản lý công ty và cũng phù hợp với nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch HĐTV, Giám đốc, Tổng Giám đốc.[37]

– Thứ năm, để thống nhất với khái niệm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp được quy định tại khoản 1 Điều 13 LDN năm 2014 và phù hợp với quy định của BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, cũng như khi BLHS có thay đổi sẽ dẫn đến tình trạng không còn phù hợp khi liệt kê các tội danh cụ thể như hiện nay và phù hợp với các hành vi xảy ra trên thực tế của doanh nghiệp. Trong thời gian tới cần sửa đổi, bổ sung khoản 6 Điều 13 LDN năm 2014 theo hướng: ” Đối với CTTNHH hai thành viên trở lên, nếu có thành viên làm người đại diện theo pháp luật của công ty bị tạm giam, kết án tù, trốn khỏi nơi cư trú, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị Tòa án tước quyền hành nghề vì phạm tội theo quy định tại Chương XVIII[38] và Chương XIX[39] của BLHS thì thành viên còn lại đương nhiên làm người đại diện theo pháp luật của công ty cho đến khi có quyết định mới của HĐTV về người đại diện theo pháp luật của công ty”.

2.2. Cần xây dựng cơ chế để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên thứ ba trong các giao dịch thông qua người đại diện theo pháp luật

– Thứ nhất, đối với trường hợp có nhiều người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, thì quyền hạn và nghĩa vụ của những người này được quy định trong Điều lệ của doanh nghiệp. Cho nên, nếu bên thứ ba không xem xét kỹ Điều lệ của doanh nghiệp trước khi xác lập giao dịch, thì có thể giao dịch với người không có thẩm quyền đại diện hoặc khi thông tin về việc phân công trách nhiệm chỉ giới hạn trong nội bộ doanh nghiệp[40]. Bên cạnh đó, nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cũng không ghi nhận phạm vi được đại diện[41] và các thông tin về chức danh quản lý, quyền hạn, nghĩa vụ của từng người đại diện chỉ được thể hiện trong Điều lệ công ty, nhưng Điều lệ công ty không phải là nội dung phải được thông báo công khai[42].

Vì vậy, theo tác giả nên có quy định theo hướng: “Mọi quy định hạn chế của doanh nghiệp về phân công thẩm quyền giữa những người đại diện theo pháp luật trong cùng một doanh nghiệp chỉ có hiệu lực đối với bên thứ ba khi họ biết được về sự hạn chế đó”. Quy định này sẽ tạo cho doanh nghiệp chủ động hơn trong việc công bố thông tin về người đại diện theo pháp luật với bên thứ ba, từ đó hạn chế được những rủi ro do những giao dịch vô hiệu mang lại và đảm bảo phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 179 LDN năm 2014[43].

– Thứ hai, đối với những trường hợp thay đổi người đại diện theo pháp luật, nếu bên thứ ba xác lập với người đã không còn làm người đại diện theo pháp luật cho doanh nghiệp nữa và nếu giao dịch đó có phần bất lợi cho doanh nghiệp, thì doanh nghiệp đó có thể sẽ đề nghị tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nên sẽ dẫn đến rủi ro quá lớn cho bên thứ ba.

Nếu như doanh nghiệp không công bố thông tin, thì có thể coi bên thứ ba là ngay tình, lỗi sẽ thuộc về doanh nghiệp và giao dịch này có hiệu lực đối với các bên theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 142 BLDS năm 2015. Đi xa hơn nữa, án lệ cần thừa nhận một nguyên tắc trước hoặc tại thời điểm xác lập giao dịch với người thứ ba, nếu doanh nghiệp không tuyên bố bằng văn bản cho người thứ ba rằng người đại diện theo pháp luật nhân danh doanh nghiệp xác lập giao dịch với bên thứ ba không có thẩm quyền đối với giao dịch này, thì bên thứ ba được quyền mặc nhiên suy đoán là người đại diện theo pháp luật này có thẩm quyền và giao dịch này có hiệu lực đối với doanh nghiệp và bên thứ ba.

– Thứ ba, đối với trường hợp trong cùng một doanh nghiệp, khi một người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp đã ra một quyết định, nhưng sau đó do quyết định đó gây bất lợi cho doanh nghiệp nên người đại diện theo pháp luật khác lại ra một quyết định phủ định lại quyết định này, từ đó chẳng những làm ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp, mà còn mất niềm tin của bên thứ ba.

Vì vậy, để tránh tình trạng này, theo tác giả cần có văn bản hướng dẫn LDN năm 2014 theo hướng: “Khi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp đã ra một quyết định đối với bên thứ ba mà quyết định này đã được ban hành đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền, nội dung theo quy định của pháp luật và đã được công bố chính thức với bên thứ ba, thì có giá trị pháp lý đối với các bên, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”.

Kết luận. LDN năm 2014 có những cải cách tiến bộ về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, thế nhưng mọi cải cách đều không thể tránh khỏi những hạn chế, bất cập nhất định, vẫn chưa đáp ứng được mong muốn và kỳ vọng thật sự của môi trường kinh doanh – nơi kiểm chứng sự cải cách đó. Có thể lý giải cho sự cải cách đó là LDN năm 2014 đã tìm ra lối thoát cho doanh nghiệp bằng việc định cơ chế nhiều người đại diện theo pháp luật, nhưng đây chỉ mới giải quyết ở phần bề nổi, mà vẫn chưa xử lý triệt để vấn đề.[44] Do vậy, qua hơn 03 năm đi vào cuộc sống thì hiệu quả thực chất trong thực tế đã được kiểm chứng và cho thấy vẫn còn nhiều điểm chưa rõ ràng và phù hợp về mặt lý luận cũng như thực tiễn như đã phân tích trên. Chính vì vậy, trong thời gian tới[45] cần phải sửa đổi, bổ sung LDN năm 2014 để nhằm đảm bảo tính hợp lý và logic trong văn bản luật, đồng thời để bảo vệ tốt hơn quyền lợi của bên thứ ba khi giao dịch với doanh nghiệp có nhiều người đại diện theo pháp luật./.

[2] Điều 323.2 Luật Công ty Anh năm 2006,

http://www.legislation.gov.uk/ukpga/2006/46/section/323 [Truy cập ngày 09/10/2018]

[3] Điều 250D Luật Doanh nghiệp Úc năm 2001,

http://www.austlii.edu.au/au/legis/cth/consol_act/ca2001172/s250d.html [Truy cập ngày 09/10/2018]

[4] Điều 11.1 Luật Công ty Nhật Bản năm 2005,

http://www.japaneselawtranslation.go.jp/law/detail/?id=2035&vm=04&re=02 [Truy cập ngày 09/10/2018]

[5] Điều 35.2 Luật Công ty trách nhiệm hữu hạn Đức năm 2016,

http://www.gesetze-im-internet.de/englisch_gmbhg/englisch_gmbhg.html [Truy cập ngày 09/10/2018]

[6] Chẳng hạn, Công ty trách nhiệm hữu hạn (khoản 5 Điều 67, khoản 1 Điều 74); Công ty cổ phần (khoản 1 Điều 116); Công ty hợp danh (khoản 1 Điều 137); Doanh nghiệp tư nhân (khoản 4 Điều 143).

[9] Điều 201A Luật Doanh nghiệp Úc năm 2001,

http://www.austlii.edu.au/au/legis/cth/consol_act/ca2001172/s250d.html [Truy cập ngày 10/10/2018]

[12] Khoản 4 Điều 185 Luật doanh nghiệp năm 2014.

[13] Khoản 1 Điều 179 Luật doanh nghiệp năm 2014.

[14] Khoản 2 Điều 13 Luật doanh nghiệp năm 2014.

[15] Điểm a khoản 1 Điều 172 Luật doanh nghiệp năm 2014 quy định: “Công ty hợp doanh là doanh nghiệp phải có ít nhất 02 thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng kinh doanh dưới một tên chung” và tại khoản 1 Điều 179 quy định: “Các thành viên hợp danh có quyền đại diện theo pháp luật và tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty”.

[16] Khoản 5 Điều 13 Luật doanh nghiệp năm 2014.

[17] Khoản 6 Điều 13 Luật doanh nghiệp năm 2014.

[18] Khoản 1 Điều 56 Luật doanh nghiệp năm 2014.

[19] Khoản 1 Điều 177 Luật doanh nghiệp năm 2014.

[20] Điểm a khoản 1 Điều 182 Luật doanh nghiệp năm 2014.

[21] Điểm b khoản 2 Điều 182 Luật doanh nghiệp năm 2014.

[22] Khoản 2 Điều 78 Luật doanh nghiệp năm 2014.

[23] Điểm e khoản 2 Điều 64 Luật doanh nghiệp năm 2014.

[24] Khoản 2 Điều 179 Luật doanh nghiệp năm 2014.

[25] Khoản 2 Điều 13 Luật doanh nghiệp năm 2014.

[26] Khoản 1 Điều 33 Luật doanh nghiệp năm 2014.

[27] Bùi Sưởng, “Nhiều người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp”, http://tinnhanhchungkhoan.vn/phap-luat/nhieu-nguoi-dai-dien-theo-phap-luat-can-song-van-vuong-155815.html [Truy cập ngày 10/10/2018]

[28] Khoản 4 Điều 141 Bộ luật dân sự năm 2015.

[29] Điều 11.3 Luật Công ty Nhật Bản năm 2005,

http://www.japaneselawtranslation.go.jp/law/detail/?id=2035&vm=04&re=02 [Truy cập ngày 10/10/2018]

[30] Điều 40 Luật Công ty Anh năm 2006,

http://www.legislation.gov.uk/ukpga/2006/46/section/323 [Truy cập ngày 10/10/2018]

[31] Luật công ty Úc đã đưa nguyên tắc “việc trong nhà” (indoor management rule) và quyền suy đoán dựa trên luật pháp (statutory assumptions) vào Điều 128 và Điều 129 Luật Công ty năm 2001.

[32] Quách Thúy Quỳnh – Nguyễn Thị Vân Anh (2016), “Lại chuyện hợp đồng vô hiệu do vi phạm thẩm quyền”, https://www.thesaigontimes.vn/148793/Lai-chuyen-hop-dong-vo-hieu-do-vi-pham-tham-quyen.html [Truy cập ngày 09/10/2018]

[36] Khoản 2 Điều 78, khoản 2 Điều 134 Luật doanh nghiệp năm 2014.

[37] Điều 57 và Điều 64 Luật doanh nghiệp năm 2014.

[38] Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế.

[39] Các tội phạm về môi trường.

[40] Nguyễn Thị Tình (2014), Một số ý kiến về quy định “người đại diện theo pháp luật” và “con dấu” trong Dự thảo Luật doanh nghiệp, Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, https://dangkykinhdoanh.gov.vn/NewsandUpdates/tabid/91/ArticleID/886/language/vi-vn/Default.aspx [Truy cập ngày 09/10/2018]

[41] Khoản 3 Điều 29 Luật doanh nghiệp năm 2014.

[42] Khoản 1 Điều 33 Luật doanh nghiệp năm 2014.

[45] Nghị quyết số 57/2018/QH14 ngày 08/6/2018 của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2019 và điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2018, thì Luật doanh nghiệp năm 2014 là một trong các luật được sửa đổi vào năm 2019.

Người Đại Diện Theo Pháp Luật Của Doanh Nghiệp Là Gì?

Theo Luật Doanh Nghiệp 2014 quy định, Người đại diện pháp luật của doanh nghiệp định nghĩa như sau:

Công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật. Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp phải bảo đảm luôn có ít nhất một người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam. Trường hợp doanh nghiệp chỉ có một người đại diện theo pháp luật thì người đó phải cư trú ở Việt Nam và phải ủy quyền bằng văn bản cho người khác thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật khi xuất cảnh khỏi Việt Nam. Trường hợp này, người đại diện theo pháp luật vẫn phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ đã ủy quyền.

Trường hợp hết thời hạn ủy quyền theo khoản 3 Điều này mà người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chưa trở lại Việt Nam và không có ủy quyền khác thì thực hiện theo quy định sau đây:

a) Người được ủy quyền vẫn tiếp tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp tư nhân trong phạm vi đã được ủy quyền cho đến khi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp trở lại làm việc tại doanh nghiệp;

b) Người được ủy quyền vẫn tiếp tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh trong phạm vi đã đượ củy quyền cho đến khi người đại diện theo pháp luật của công ty trở lại làm việc tại công ty hoặc cho đến khi chủ sở hữu công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, quyết định cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

Trường hợpdoanh nghiệp chỉ có một người đại diện theo pháp luật và người này vắng mặt tại Việt Nam quá 30 ngày mà không ủy quyền cho người khác thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc bị chết, mất tích, tạm giam, kết án tù, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì chủ sở hữu công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của công ty.

Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên, nếu có thành viên là cá nhân làm người đại diện theo pháp luật của công ty bị tạm giam, kết án tù, trốn khỏi nơi cư trú, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị Tòa án tước quyền hành nghề vì phạm tội buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép, trốn thuế, lừa dối khách hàng và tội khác theo quy định của Bộ luật hình sự thì thành viên còn lại đương nhiên làm người đại diện theo pháp luật của công ty cho đến khi có quyết định mới của Hội đồng thành viên về người đại diện theo pháp luật của công ty.

Trong một số trường hợp đặc biệt, Tòa án có thẩm quyền có quyền chỉ định người đại diện theo pháp luật trong quá trình tố tụng tại Tòa án.

Luật Khánh Phong với dịch vụ thay đổi người đại diện pháp luật. Liên hệ ngay: 1900 6296 để được tư vấn nhanh nhất.

Người Đại Diện Theo Pháp Luật Là Gì?

Đại diện là gì?

Theo qui định tại Bộ luật dân sự, đại diện là việc một người (sau đây gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (sau đây gọi là người được đại diện) xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện.

Không chỉ cá nhân, mà pháp nhân (công ty, tổ chức xã hội …) hoặc chủ thể khác đều có quyền và có thể xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự (như mua bán hàng hóa, ký hợp đồng cho thuê nhà…) thông qua người đại diện của mình.

Ví dụ: một người chồng không thể ủy quyền cho một người khác đại diện để “làm chồng” đối với… người vợ của mình!

Việc phát sinh quan hệ đại diện được xác lập theo hai hình thức: do pháp luật quy định hoặc theo sự uỷ quyền.

Ví dụ: Người đại diện của công ty là người mà công ty đăng ký với vị trí là “người đại diện theo pháp luật” – thể hiện trong Giấy phép đăng ký kinh doanh (thường là giám đốc) do Sở kế hoạch và đầu tư cấp. Đây là trường hợp đại diện mà pháp luật quy định.

Tiếp đó, nếu như vị giám đốc công ty này lại ủy quyền cho một nhân viên khác, chẳng hạn là anh A, đi dự họp tại cơ quan thuế – thì anh A sẽ trở thành người đại diện cho giám đốc công ty. Đây là trường hợp đại diện theo ủy quyền (do được ủy quyền mà có tư cách đại diện).

Những chú ý về người đại diện pháp luật

Như đã nói, “đại diện theo pháp luật” là sự đại diện do pháp luật quy định hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định. Pháp luật qui định “người đại diện theo pháp luật” trong một số trường hợp như sau:

Đối với con chưa thành niên (dưới 18 tuổi) – Cha, mẹ là người đại diện theo pháp luật;

Đối với người được giám hộ – Người giám hộ là người đại diện theo pháp luật;

Đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự – Người được Toà án chỉ định là người đại diện theo pháp luật;

Đối với hộ gia đình – Chủ hộ là người đại diện theo pháp luật.

Để thực hiện thủ tục thay đổi người đại diện theo pháp luật cho công ty của bạn, vui lòng xem bài viết này.

Bạn đang xem bài viết Lưu Ý Về Người Đại Diện Theo Pháp Luật Của Doanh Nghiệp trên website Tvzoneplus.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!