Xem Nhiều 6/2023 #️ Quy Định Của Pháp Luật Về Mang Thai Hộ Vì Mục Đích Nhân Đạo # Top 9 Trend | Tvzoneplus.com

Xem Nhiều 6/2023 # Quy Định Của Pháp Luật Về Mang Thai Hộ Vì Mục Đích Nhân Đạo # Top 9 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Quy Định Của Pháp Luật Về Mang Thai Hộ Vì Mục Đích Nhân Đạo mới nhất trên website Tvzoneplus.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Sau đây, FBLAW sẽ cùng quý khách hàng quan tâm đi tìm hiểu các quy định của pháp luật hiện hành về hình thức mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.

1. Khái niệm Khoản 22, Điều 3, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định mang thai hộ vì mục đích nhân đạo như sau:  Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con.

Khoản 22, Điều 3, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định mang thai hộ vì mục đích nhân đạo như sau:Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con.

2. Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo như sau:

1. Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của các bên và được lập thành văn bản. 2. Vợ chồng có quyền nhờ người mang thai hộ khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản; b) Vợ chồng đang không có con chung; c) Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý. 3. Người được nhờ mang thai hộ phải có đủ các điều kiện sau đây:a) Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ; b) Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần; c) Ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ; d) Trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng; đ) Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý. 4. Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo không được trái với quy định của pháp luật về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

Điều này đã được quy định chi tiết tại Nghị định số 10/2015/NĐ- CP ngày 28/01/2015 quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (Nghị định số 10). Khi cặp vợ chồng sau một năm chung sống, có quan hệ tình dục trung bình 2 – 3 lần/tuần, không sử dụng biện pháp tránh thai mà người vợ vẫn không có thai thì có thể được coi là vô sinh (Khoản 2, Điều 2, Nghị định 10). Cặp vợ chồng vô sinh muốn được nhờ mang thai hộ phải gửi hồ sơ đề nghị thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được phép thực hiện kỹ thuật này.

3.Hồ sơ đề nghị thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Hồ sơ gồm các giấy tờ sau:

– Đơn đề nghị được thực hiện kỹ thuật mang thai hộ theo Mẫu số 04 ban hành kèm theo Nghị định này; – Bản cam kết tự nguyện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo Mẫu số 05 ban hành kèm theo Nghị định này; – Bản cam đoan của người đồng ý mang thai hộ là chưa mang thai hộ lần nào; Bản xác nhận tình trạng chưa có con chung của vợ chồng do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của vợ chồng nhờ mang thai hộ xác nhận; – Bản xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm về việc người vợ có bệnh lý, nếu mang thai sẽ có nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của người mẹ, thai nhi và người mẹ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản; – Bản xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm đối với người mang thai hộ về khả năng mang thai, đáp ứng quy định đối với người nhận phôi theo quy định tại Khoản 4 Điều 5 Nghị định này và đã từng sinh con; – Bản xác nhận của chồng người mang thai hộ (trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng) về việc đồng ý cho mang thai hộ; – Bản xác nhận nội dung tư vấn về y tế của bác sỹ sản khoa; – Bản xác nhận nội dung tư vấn về tâm lý của người có trình độ đại học chuyên khoa tâm lý trở lên; – Bản xác nhận nội dung tư vấn về pháp luật của luật sư hoặc luật gia hoặc người trợ giúp pháp lý; – Bản thỏa thuận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo giữa vợ chồng nhờ mang thai hộ và bên mang thai hộ theo quy định tại Mẫu số 06 ban hành kèm theo Nghị định 10.

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định tại Khoản 1 Điều này, cơ sở được cho phép thực hiện kỹ thuật mang thai hộ phải có kế hoạch điều trị để thực hiện kỹ thuật mang thai hộ. Trường hợp không thể thực hiện được kỹ thuật này thì phải trả lời bằng văn bản, đồng thời nêu rõ lý do.

4. Thỏa thuận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Điều 96 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định thỏa thuận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo như sau:

1. Thỏa thuận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo giữa vợ chồng nhờ mang thai hộ (sau đây gọi là bên nhờ mang thai hộ) và vợ chồng người mang thai hộ (sau đây gọi là bên mang thai hộ) phải có các nội dung cơ bản sau đây: b) Cam kết thực hiện các quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 97 và Điều 98 của Luật này; c) Việc giải quyết hậu quả trong trường hợp có tai biến sản khoa; hỗ trợ để bảo đảm sức khỏe sinh sản cho người mang thai hộ trong thời gian mang thai và sinh con, việc nhận con của bên nhờ mang thai hộ, quyền và nghĩa vụ của hai bên đối với con trong trường hợp con chưa được giao cho bên nhờ mang thai hộ và các d) Trách nhiệm dân sự trong trường hợp một hoặc cả hai bên vi phạm cam kết theo thỏa thuận. 2. Thỏa thuận về việc mang thai hộ phải được lập thành văn bản có công chứng.    Trong trường hợp vợ chồng bên nhờ mang thai hộ ủy quyền cho nhau hoặc vợ chồng bên mang thai hộ ủy quyền cho nhau về việc thỏa thuận thì việc ủy quyền phải lập thành văn bản có công chứng. Việc ủy quyền cho người thứ ba không có giá trị pháp lý.    Trong trường hợp thỏa thuận về mang thai hộ giữa bên mang thai hộ và bên nhờ mang thai hộ được lập cùng với thỏa thuận giữa họ với cơ sở y tế thực hiện việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì thỏa thuận này phải có xác nhận của người có thẩm quyền của cơ sở y tế này.

5. Quyền, nghĩa vụ của các bên trong việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Điều 97 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định quyền, nghĩa vụ của bên mang thai hộ vì mục đích nhân đạo như sau:

1. Người mang thai hộ, chồng của người mang thai hộ có quyền, nghĩa vụ như cha mẹ trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản và chăm sóc, nuôi dưỡng con cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ; phải giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ. 2. Người mang thai hộ phải tuân thủ quy định về thăm khám, các quy trình sàng lọc để phát hiện, điều trị các bất thường, dị tật của bào thai theo quy định của Bộ Y tế. 3. Người mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về lao động và bảo hiểm xã hội cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ. Trong trường hợp kể từ ngày sinh đến thời điểm giao đứa trẻ mà thời gian hưởng chế độ thai sản chưa đủ 60 ngày thì người mang thai hộ vẫn được hưởng chế độ thai sản cho đến khi đủ 60 ngày. Việc sinh con do mang thai hộ không tính vào số con theo chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình. 4. Bên mang thai hộ có quyền yêu cầu bên nhờ mang thai hộ thực hiện việc hỗ trợ, chăm sóc sức khỏe sinh sản.    Trong trường hợp vì lý do tính mạng, sức khỏe của mình hoặc sự phát triển của thai nhi, người mang thai hộ có quyền quyết định về số lượng bào thai, việc tiếp tục hay không tiếp tục mang thai phù hợp với quy định của pháp luật về chăm sóc sức khỏe sinh sản và sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. 5. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ từ chối nhận con thì bên mang thai hộ có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên nhờ mang thai hộ nhận con.

Điều 98 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo như sau:

1. Bên nhờ mang thai hộ có nghĩa vụ chi trả các chi phí thực tế để bảo đảm việc chăm sóc sức khỏe sinh sản theo quy định của Bộ Y tế. 2. Quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đối với con phát sinh kể từ thời điểm con được sinh ra. Người mẹ nhờ mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về lao động và bảo hiểm xã hội từ thời điểm nhận con cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi. thì phải bồi thường. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ chết thì con được hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật đối với di sản của bên nhờ mang thai hộ. 5. Trong trường hợp bên mang thai hộ từ chối giao con thì bên nhờ mang thai hộ có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên mang thai hộ giao con.

Mang Thai Hộ Vì Mục Đích Nhân Đạo

a) Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ t nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con.

b) Mang thai hộ vì mục đích thương mại là việc một người phụ nữ mang thai cho người khác bằng việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để được hưởng lợi về kinh tế hoặc lợi ích khác.

2. Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

a) Điều kiện chung

Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của các bên và được lập thành văn bản.

b) Điều kiện của vợ, chồng nhờ mang thai hộ

– Phải có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản;

– Vợ chồng đang không có con chung;

– Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

c) Điều kiện đối với người mang thai hộ

– Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ bao gồm: Anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì của họ; anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha với họ;

– Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần;

– Ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ;

– Trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng;

– Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

II. Thỏa thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

1. Nội dung của thỏa thuận mang thai hộ

Thỏa thuận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo giữa vợ chồng nhờ mang thai hộ (sau đây gọi là bên nhờ mang thai hộ) và vợ chồng người mang thai hộ (sau đây gọi là bên mang thai hộ) phải có các nội dung cơ bản sau đây:

b) Cam kết thực hiện các quyền, nghĩa vụ của các bên theo quy định của pháp luật;

d) Trách nhiệm dân sự trong trường hợp một hoặc cả hai bên vi phạm cam kết theo thỏa thuận.

2. Hình thức của thỏa thuận mang thai hộ

a) Thỏa thuận về việc mang thai hộ phải được lập thành văn bản có công chứng. Trong trường hợp vợ chồng bên nhờ mang thai hộ ủy quyền cho nhau hoặc vợ chồng bên mang thai hộ ủy quyền cho nhau về việc thỏa thuận thì việc ủy quyền phải lập thành văn bản có công chứng. Việc ủy quyền cho người thứ ba không có giá trị pháp lý.

b) Trong trường hợp thỏa thuận về mang thai hộ giữa bên mang thai hộ và bên nhờ mang thai hộ được lập cùng với thỏa thuận giữa họ với cơ sở y tế thực hiện việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì thỏa thuận này phải có xác nhận của người có thẩm quyền của cơ sở y tế này.

III. Quyền, nghĩa vụ của các bên mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

1. Quyền, nghĩa vụ của bên mang thai hộ

a) Người mang thai hộ, chồng của người mang thai hộ có quyền, nghĩa vụ như cha mẹ trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản và chăm sóc, nuôi dưỡng con cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ; phải giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ.

b) Người mang thai hộ phải tuân thủ quy định về thăm khám, các quy trình sàng lọc để phát hiện, điều trị các bất thường, dị tật của bào thai theo quy định của Bộ Y tế.

c) Người mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về lao động và bảo hiểm xã hội cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ. Trong trường hợp kể từ ngày sinh đến thời điểm giao đứa trẻ mà thời gian hưởng chế độ thai sản chưa đủ 60 ngày thì người mang thai hộ vẫn được hưởng chế độ thai sản cho đến khi đủ 60 ngày. Việc sinh con do mang thai hộ không tính vào số con theo chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình.

d) Bên mang thai hộ có quyền yêu cầu bên nhờ mang thai hộ thực hiện việc hỗ trợ, chăm sóc sức khỏe sinh sản.

Trong trường hợp vì lý do tính mạng, sức khỏe của mình hoặc sự phát triển của thai nhi, người mang thai hộ có quyền quyết định về số lượng bào thai, việc tiếp tục hay không tiếp tục mang thai phù hợp với quy định của pháp luật về chăm sóc sức khỏe sinh sản và sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

e) Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ từ chối nhận con thì bên mang thai hộ có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên nhờ mang thai hộ nhận con.

2. Quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ

a) Bên nhờ mang thai hộ có nghĩa vụ chi trả các chi phí thực tế để bảo đảm việc chăm sóc sức khỏe sinh sản theo quy định của Bộ Y tế.

b) Quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đối với con phát sinh kể từ thời điểm con được sinh ra. Người mẹ nhờ mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về lao động và bảo hiểm xã hội từ thời điểm nhận con cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi.

e) Trong trường hợp bên mang thai hộ từ chối giao con thì bên nhờ mang thai hộ có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên mang thai hộ giao con.

IV. Giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm về sinh con bằng mang thai hộ

1. Giải quyết tranh chấp

a) Tòa án là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về sinh con bằng mang thai hộ.

b) Trong trường hợp chưa giao đứa trẻ mà cả hai vợ chồng bên nhờ mang thai hộ chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì bên mang thai hộ có quyền nhận nuôi đứa trẻ; nếu bên mang thai hộ không nhận nuôi đứa trẻ thì việc giám hộ và cấp dưỡng đối với đứa trẻ được thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và Bộ luật dân sự.

2. Xử lý hành vi vi phạm

Các bên trong quan hệ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vi phạm điều kiện, quyền, nghĩa vụ được quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo trách nhiệm dân sự, hành chính, hình sự.

Mang Thai Hộ Vì Mục Đích Thương Mại Sẽ Bị Xử Lý Hình Sự

Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo- cái tên cũng cho thấy rằng việc mang thai hộ chỉ với mục đích hỗ trợ cho những cặp vợ chồng không có khả năng tự sinh con; vậy mà mục đích cao đẹp đó đang bị biến tướng trở thành mang thai hộ vì mục đích Thương mại. Vậy việc làm này pháp luật xử lý như thế nào?

Nội dung tư vấn:

1. Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và vì mục đích thương mại có gì khác nhau?

Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện mang thai giúp cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai, sinh con mặc dù đã áp dụng kỹ thuận hỗ trợ sinh sản; bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con.

Đặc điểm cơ bản của việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là người phụ nữ hoàn toàn tự nguyện mang thai “hộ” và không nhận bất kỳ lợi ích kinh tế nào.

Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được thực hiện trên sự tự nguyện và được xác lập bằng văn bản.

Để thực hiện biện pháp mang thai hộ, không phải do các bên tự tìm đến nhau nhờ mang thai, mà phải tuân theo các điều kiện và trình tự thủ tục nhờ mang thai, sinh con khá chặt chẽ. Việc này được quy định cụ thể trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị định 10/2015/NĐ-CP hướng dẫn về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.

Mang thai hộ vì mục đích thương mại là việc một người phụ nữ mang thai cho người khác bằng việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để được hưởng lợi về kinh tế hoặc lợi ích khác.

Như vậy giữa mang thai hộ vì nhân đạo và vì thương mại đều giống nhau ở việc người nhờ mang thai không thể tự mang thai, sinh con được dù đã áp dụng kỹ thuận hỗ trợ sinh sản và cách thức thực hiện về y tế cũng giống nhau. Tuy nhiên về mục đích là hoàn toàn khác nhau. Ở mang thai hộ vì mục đích nhân đạo thì mục đích của người mang thai hộ chỉ là giúp đỡ những cặp vợ chồng khó khăn thì mang thai hộ vì mục đích thương mại lại nhằm có được lợi ích cho bản thân mình.

Mang thai hộ vì mục đích thương mại là một hành vi bị pháp luật Hôn nhân và gia đình cấm thực hiện.

2. Trách nhiệm mà người tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại phải chịu

Mặc dù quy định của Luật hôn nhân và gia đình cấm việc một người phụ nữ mang thai hộ vì mục đích thương mại. Nhưng khi xử lý hình sự lại không xử lý người mang thai hộ mà đối tượng bị xử lý lại là người tổ chức việc mang thai hộ chứ không phải những người nhờ mang thai hay trực tiếp mang thai. Trong khi đó, lại không có định nghĩa người tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại là người như thế nào?

Người tổ chức mang thai hộ có thể hiểu là người đứng ra thực hiện các hành vi để hỗ trợ bên nhờ mang thai hộ và bên mang thai hộ tiến hành việc mang thai hộ, các hành vi hỗ trợ thường thấy là: tạo điều kiện cho các bên có nhu cầu mang thai hộ gặp gỡ, trao đổi, bàn bạc, sắp xếp, tạo điều kiện và hỗ trợ về các phương tiện…Mục đích cuối cùng của người thực hiện hành vi là vì mục đích thương mại.

Theo quy định của Bộ luật hình sự tại điều 187: Hành vi tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại không bị xử phạt hành chính mà sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự, với mức phạt tương ứng như sau:

– Tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm.

– Trường hợp tổ chức mang thai hộ đối với hai người trở lên hoặc phạm tội 02 lần trở lên hoặc lợi dụng danh nghĩa của cơ quan tổ chức (như bệnh viên…) hoặc tái phạm nguy hiểm thì sẽ bị phạt tù từ 1 năm đến 5 năm.

– Hình phạt bổ sung: bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Một người sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại khi thỏa mãn các điều kiện sau:

Chủ thể: người phạm tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự ( theo quy định của Bộ luật hình sự là người từ đủ 16 tuổi trở lên) và là người đứng ra thực hiện tất cả các hành vi phạm tội để tổ chức việc mang thai hộ vì mục đích thương mại. Điều đó có nghĩa, ở tội phạm này pháp luật chỉ xử lý hình sự với người tổ chức cho việc mang thai hộ diễn ra để thu lợi chứ không phải bên nhờ mang thai hay bên mang thai.

Mặt khách quan của tội phạm: hành vi tổ chức mang thai hộ gồm tổng hợp nhiều hành vi khác nhau từ việc tạo điều kiện cho bên có nhu cầu mang thai gặp gỡ, trao đổi, và hỗ trợ phương tiện để các bên tiến hành việc mang thai hộ. Mục đích của người tổ chức mang thai hộ trong trường hợp này là nhận được lợi ích vật chất của bên nhờ mang thai hộ; mục đích mang thai không phải là yếu tố quyết định việc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Mặt chủ quan: người thực hiện hành vi tổ chức mang thai hộ vì mục đích nhân đạo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, tức họ hiểu rõ hành vi mình thực hiện là không được phép, biết được hậu quả nhưng vẫn chủ động thực hiện.

Trân trọng cảm ơn!

Đạo Đức Sinh Học Và Quy Định Của Pháp Luật

Posted on by Civillawinfor

Trong thực tế, thực tiễn đạo đức sinh học đã xuất hiện trước khi có thuật ngữ để chỉ thực tiễn đó. Vào cuối cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, các nhà bác học thuộc mọi quốc gia đã tập hợp lại với nhau, bày tỏ sự lo lắng của họ trước việc sử dụng vũ khí hạt nhân và mong muốn định hướng cho tương lai. Quả bom nguyên tử đầu tiên ném xuống Nakasaki đã là một dấu hiệu của thực tiễn đạo đức sinh học.

Gần đây, ở Pháp người ta đã tỏ ra quan ngại về những thành tựu mới mà các nhà sinh học đã đạt được. Ví dụ như vào năm 1997, khi mà chú cừu Dolly được ra đời bằng phương pháp sinh sản vô tính tại Xcốt-Len, dư luận cũng như giới chính trị gia đã lập tức đặt ra câu hỏi là một khi phương pháp sinh sản vô tính đã thành công ở động vật thì chắc cũng có thể thực hiện được ở người và trong trường hợp đó, chuyện gì sẽ xảy ra? Một sự việc nữa làm chấn động dư luận nước Pháp gần đây là việc một bà cụ 62 tuổi đã sinh ra một đứa trẻ hình thành nên từ trứng xin của một người khác và được thụ tinh bằng tinh trùng của em trai bà. Như vậy đứa trẻ sinh ra vừa là con vừa là cháu của bà.

Trước những tình huống như vậy, vấn đề đặt ra đối với các nhà lập pháp là có nên để mặc hay cần có một khuôn khổ pháp luật để điều chỉnh. Từ lâu, các luật gia đã cho rằng cần phải có một khuôn khổ pháp lý điều chỉnh một số hoạt động nghiên cứu khoa học mới này như việc nghiên cứu sinh sản vô tính ở người mà một số nhà khoa học Italia và Hy Lạp đang tiến hành chẳng hạn. Tuy nhiên, cho đến bây giờ thì vẫn chưa có cơ sở để xác thực được rằng những nghiên cứu như vậy có thể thành công bởi như chúng ta đều biết, các nhà khoa học đã phải tiến hành đến 300 cuộc thí nghiệm để có thể tạo ra được chú cừu Dolly.

Sự phát triển của cuộc tranh luận xung quanh khái niệm đạo đức sinh học đã thể hiện sự gặp gỡ của hai tiến triển đặc trưng của xã hội. Về khía cạnh này, thuật ngữ đạo đức sinh học có rất nhiều ý nghĩa. Một mặt, nó thể hiện sự phát triển vượt bậc của khoa học nghiên cứu về cơ thể sống đã cho phép con người kiểm soát được tự nhiên và thậm chí là ngay bản thân mình một cách khó tưởng tượng nổi. Mặt khác, thuật ngữ này gắn liền với một khái niệm khác ngày càng được sử dụng rộng rãi, đó là khái niệm đạo đức.

TRA CỨU BÀI VIẾT ĐẦY ĐỦ TẠI ĐÂY SOURCE: THAM LUẬN TẠI TỌA ĐÀM “PHÁP LUẬT VỀ ĐẠO ĐỨC SINH HỌC”, NHÀ PHÁP LUẬT VIỆT – PHÁP, Hà Nội, 16-17/9/2001.

Ngày nay, vấn đề đạo đức đặt ra ở khắp mọi nơi và thậm chí trở thành một thứ quyền lực trong kinh tế, chính trị, xã hội và khoa học. Nền tảng đạo đức đáp ứng một đòi hỏi, đó là đòi hỏi điều tiết xã hội. Nó quy định rằng những người ra quyết định phải cư xử một cách hợp lý, phải chăng, đó là nhiệm vụ đầu tiên của đạo đức. Nhưng sự xuất hiện của thứ công cụ điều tiết xã hội mới này còn mang một ý nghĩa khác, đó là ý nghĩa quy phạm. Tính quy phạm của nguyên tắc đạo đức không giống với tính quy phạm của những chuẩn mực thông thường và tính quy phạm của luật pháp. Nguyên tắc đạo đức không dựa trên một nền tảng cụ thể xuất phát từ một sự thật siêu hình trong tôn giáo và được thế tục hoá, một nền tảng thể hiện một trật tự mang tính thực thể mà từ đó người ta rút ra những nguyên tắc ứng xử. Nguyên tắc đạo đức cũng không tương đồng với những đòi hỏi của nguyên tác luật pháp bởi nó không nằm trong khuôn khổ của các thể chế Nhà nước hay quốc tế và cũng không xuất phát từ việc ban hành các quy định pháp luật mà giá trị chỉ dựa trên tính chính thống của quyền lực đã ban hành ra chúng và trên các biện pháp chế tài.

Bạn đang xem bài viết Quy Định Của Pháp Luật Về Mang Thai Hộ Vì Mục Đích Nhân Đạo trên website Tvzoneplus.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!