Xem Nhiều 12/2022 #️ Tìm Hiểu Về Chữ “Sở” (所) Trong Tiếng Hán Cổ / 2023 # Top 16 Trend | Tvzoneplus.com

Xem Nhiều 12/2022 # Tìm Hiểu Về Chữ “Sở” (所) Trong Tiếng Hán Cổ / 2023 # Top 16 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Tìm Hiểu Về Chữ “Sở” (所) Trong Tiếng Hán Cổ / 2023 mới nhất trên website Tvzoneplus.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

THUrsday – 10/10/2013 09:16

TÌM HIỂU VỀ CHỮ “SỞ” (所) TRONG TIẾNG HÁN CỔ

Nguyễn Hoàng Thân

Trong tiến trình lịch sử, nền văn hóa Việt Nam có một thời gian dài chịu ảnh hưởng nhưng cũng đồng thời biết tiếp thu những tinh hoa của nền văn hóa Trung Quốc. Cố nhiên, con đường giao lưu văn hóa ấy chính là nhờ vào ngôn ngữ. Nói một cách cụ thể hơn, văn tự Hán, ngôn ngữ Hán có một vai trò quan trọng trong đời sống sinh hoạt của người Việt Nam. Nền giáo dục khoa cử bằng Hán học kéo dài mười thế kỷ cho đến năm 1919 trở về sau, chữ Hán dần mất đi uy quyền của nó, nhường chỗ cho sự phát triển của chữ Quốc ngữ. Kho tàng chữ Hán có số lượng rất đồ sộ, trên 6 vạn chữ(1). Tuy nhiên đối với chúng ta học tập và nghiên cứu tiếng Hán, văn hóa Hán thì có thể chỉ cần nắm khoảng ba ngàn chữ (tam thiên tự), hoặc 3500 chữ(2). Trong số đó có chữ “sở”. ở bảng từ vựng tối thiểu của sách Cơ sở ngữ văn Hán Nôm có 1443 chữ (từ) và ở Danh sách các âm tiết Hán Việtcó sức sản xuất cao của sách Mẹo giải nghĩa từ Hán Việt và chữa lỗi chính tả có 250 âm tiết thì cũng đều giảng nghĩa về chữ “sở”. Như vậy chữ “sở” là từ thường hay sử dụng trong tiếng Hán. Để hiểu sâu thêm về chữ “sở” này, tác giả sẽ nghiên cứu nó trên ba mặt: hình thể, từ nghĩa, từ pháp. I. Hình thể Chữ “sở” gồm 8 nét; tra theo bộ “cân”; thuộc kết cấu trái phải; là chữ hình thanh: bên phải là phần hình, bên trái là phần thanh(3). II. Từ nghĩa và từ pháp Nghĩa gốc của “sở” là âm thanh của tiếng đốn cây đẵn gỗ(4), Kinh Thi có câu: “Phạt mộc sở sở”(5) 伐 木 所 所. Để cho thuận tiện, tác giả nghiên cứu gộp từ “sở” trên cả mặt từ nghĩa và từ pháp. “Sở” dùng làm danh từ, trợ động từ, số từ, lượng từ, đại từ, liên từ, trợ từ. 1. Dùng làm danh từ có các nghĩa sau: + Nơi, chốn(6): a. Trụ sở 住 所 (chỗ ở) b. Các đắc kỳ sở 各 得 其 所 (đâu vào đó cả). + Viện, sở, đồn(7): a. Nghiên cứu sở 研 究 所 (viện nghiên cứu) b. Phái xuất sở 派 出 所 (đồn công an) c. Chỉ huy sở 指 揮 所 (sở chỉ huy) d. Dục chí hà sở? 欲 至 何 所? (Muốn đến nơi đâu?). (Tống Định Bá tróc quỉ)(8). e. Công triều ư vương sở 公 朝 於 王 所 (Công thần quay mặt về phía nhà vua). (Tả truyện – Hi công nhị thập bát niên)(9). + Nơi đóng quân thời Minh, lớn gọi là Thiên hộ sở 千 戶 所, nhỏ gọi là Bách hộ sở 百 戶 所, bây giờ chỉ dùng cho địa danh: Hải Dương sở 海 陽 所 (ở Sơn Đông), Tiền sở 前 所 (ở Chiết Giang)(10). + Họ (tộc) Sở. Ví dụ: Hán đại hữu Sở Trung 漢 代 有 所 忠 (Đời Hán có Sở Trung)(11). 2. Dùng làm trợ động từ: có nghĩa là có thể. Ví dụ: “Tất dục tranh thiên hạ, phi Tín vô sở dữ kế sự giả 必 欲 爭 天 下, 非 信 無 所 與 計 事 者 Muốn tranh giành thiên hạ, không có Hàn Tín thì không thể bàn mưu tính kế được). (Sử kí – Hoài Âm hầu liệt truyện)(12). 3. Dùng làm số từ: chỉ số ước lượng, có nghĩa là: chừng, độ, vài. Ví dụ: a. Phụ khứ lý sở phục hoàn 父 去 里 所 復 還. (Người già đi vài dặm, (muốn) quay lại). (Hán thư – Trương Lương truyện)(13). b. “Tòng đệ tử nữ thập nhân sở. 從 弟 子 女 十 人 所 (Đệ tử nữ đi theo có khoảng mười người). (Tây Môn Báo trị Nghiệp)(14). 4. Dùng làm lượng từ: có nghĩa là: ngôi, tòa, sở, thửa. Ví dụ: a. Lâu phòng nhất sở 樓 房 一 所 (một tòa lầu)(15). b. Lưỡng sở học hiệu 兩 所 學 校 (hai ngôi trường)(16). c. Ly cung biệt quán, tam thập lục sở. (離 宮 別 館 , 三 十 六 所. (Ban Cố – Tây đô phú)(17). 5. Dùng làm đại từ: có nghĩa là: đây, này, gì, cái gì… Ví dụ: a. Tề vong địa nhi vương gia thiện, sở phi kiêm ái chi tâm dã 齊 亡 地 而 王 加 膳, 所 非 兼 愛 之 心 也 Nước Tề mất đất mà vua lại không tiết kiệm, đây không phải là lòng kiêm ái vậy). (Lã thị xuân thu – Thẩm ưng)(18). b. Vấn đế băng sở bệnh? 問 帝 崩 所 病 (Hỏi vua chết (vì) bệnh gì ?). (Hán thư – Lưu Đán truyện)(19). Chữ “sở” cũng là một đại từ chỉ thị đặc biệt, nó thông thường dùng trước động từ cập vật kết hợp với động từ hợp thành một ngữ danh từ biểu thị “điều mà…”, “cái mà…”, “người mà…”. Nói chung tất cả cái mà chữ “sở” thay thế là đối tượng của hành vi. Ví dụ: a. Đoạt kì sở tăng nhi dữ kì sở ái 奪 其 所 憎 而 與 其 所 愛 (Tước đoạt (gạt bỏ) điều ghét của nó mà đem lại điều yêu của nó). (Chiến quốc sách – Triệu sách). b. Quản Trọng, Tăng Tây chi sở bất vi dã 管 重, 曾 西 之 所 不 為 也 . (Như ông Quản Trọng, ông Tăng Tây còn không thèm làm). (Mạnh Tử – Công Tôn Sửu thượng). c. Quân tử ư kì sở bất tri, cái khuyết như dã 君 子 於 其 所 不 知, 蓋 闕 如 也 (Người quân tử đối với cái mình chưa biết thì chưa quyết (định)). (Luận ngữ – Tử Lộ). d. Vương chi sở đại dục khả đắc văn dư? 王 之 所 大 欲 可 得 聞 與? (Điều dục vọng lớn của nhà vua có thể cho tôi nghe được không ? ). (Mạnh Tử – Lương Huệ Vương thượng). Do cụm từ mà chữ “sở” sau khi kết hợp với động từ hợp thành mang tính danh từ, vì vậy có thể được định ngữ tu sức (thông thường dùng giới từ chữ “chi” (之) làm giới từ), ví dụ: “Tăng Tây chi sở bất vi”, “quân chi sở tri”,… Chữ “kì” (其) thay thế một danh từ thêm “chi”, vì vậy có thể làm định ngữ của cụm từ chữ “sở”, ví dụ “kì sở tăng”, “kì sở ái”. Cụm từ chữ “sở” tuy có tính danh từ, nhưng nếu tách rời câu văn trên dưới, bản thân nó nói chung không thể biểu thị rõ ràng người hay vật, càng không thể biểu thị cụ thể người gì, vật gì. Vì vậy còn có thể thêm danh từ vào sau động từ, thay thế tên gọi của người hoặc sự vật. Ví dụ: a. Trọng Tử sở cư chi thất, Bá Di chi sở trúc dư? ức diệc Đạo Chích chi sở trúc dư? Sở thực chi túc, Bá Di chi sở thụ dư? ức diệc Đạo Chích chi sở thụ dư? Thị vị khả tri dã 仲 子 所 居 之 室 伯 夷 之 所 築 與? 抑 亦 盜 跖 之 所 築 與 所 食 之 粟 伯 夷 之 所 樹 與 抑 亦 盜 跖 之 所 樹 與? 是 未 可 知 也. (Nhà Trọng Tử ở do Bá Di làm ra hay Đạo Chích làm ra? Hạt thóc (Trọng Tử) ăn do Bá Di trồng ra hay Đạo Chích trồng ra ? Điều này chưa thể biết được). (Mạnh Tử – Đằng Văn công hạ). b. Quang bất cảm dĩ đồ quốc sự, sở thiện Kinh Khanh khả sử dã. 光 不 敢 以 圖 國 事, 所 善 荊 卿 可 使 也. (Sử kí – Thích khách liệt truyện). Chúng ta còn phải chú ý với sự giống khác nhau của “sở” và “giả” (者) sau khi kết hợp với động từ cập vật. Ví dụ “sở kiến” 所 見 chỉ ra đối tượng của “kiến” 見, “kiến giả” 見 者 chỉ ra người chủ động của hành vi. Thử so sánh: + Thủy thần chi giải ngưu chi thời, sở kiến vô phi ngưu dã 始 臣 之 解 牛 之 時, 所 見 無 非 牛 也. (Khi mới đầu làm nghề mổ bò, thần nhìn đâu cũng chỉ thấy toàn là bò). (Trang Tử – Dưỡng sinh chủ). + Kiến giả kinh do quỉ thần 見 者 驚 猶 鬼 神 (Người mà được nhìn thấy đều kinh ngạc, cho rằng (khéo) giống quỉ thần). (Trang Tử – Đạt sinh). Nhưng, nếu trước động từ dùng chữ “sở”, như vậy chữ “giả” sau động từ sẽ thay thế đối tượng của hành vi, lúc này chữ “sở” có vai trò nêu lên đối tượng hành vi, cụm từ “sở… giả” vẫn có tính danh từ. Ví dụ: a. Sở ái giả, náo pháp hoạt chi; sở tăng giả, khúc pháp chu diệt chi 所 愛 者, 撓 法 活 之; 所 憎 者 曲 法 硃 滅 之. (Cái mà mình yêu, tìm cách làm cho nó sống; cái mà mình ghét, tìm cách bẻ cong để tiêu diệt nó) (Sử kí – Khốc sử liệt truyện). b. Kì sở thiện giả, ngô tắc hành chi; kì sở ác giả, ngô tắc cải chi 其 所 善 者, 吳 則 行 之; 其 所 惡 者, 吳 則 改 之. (Đối với điều thiện, ta sẽ thực hành; đối với điều ác ta sẽ thay đổi nó). (Tả truyện – Nhương công tam thập nhất niên). c. Mạnh Thường Quân viết: “Thị ngô gia sở quả hữu giả” 孟 常 君 曰: “視 吳 家 所 寡 有 者”. (Mạnh Thường Quân nói: “Xem nhà ta thiếu cái gì thì mua cái đó”). (Chiến quốc sách – Tề sách). a. Sở nhân hữu thiệp giang giả, kì kiếm tự chu trung trụy ư thủy, cự khế kì chu, viết: “Thị ngô kiếm chi sở tòng trụy” 楚 人 有 涉 江 者, 其 劍 自 舟 中 墜 於 水, 遽 契 其 舟, 曰: “是 吳 劍 之 所 從 墜”. (Có người nước Sở qua sông, thanh kiếm của ông ta rơi từ trên thuyền xuống nước, bèn khắc vào thuyền đó, bảo: “Đây là chỗ kiếm của tôi rơi.) (Lã thị xuân thu – Sát kim). Biểu thị nơi kiếm rơi. b. Bỉ binh giả, sở dĩ cấm bạo trừ hại, phi tranh đoạt dã 彼 兵 者, 所 以 禁 暴 除 害, 非 爭 奪 也. (Đội quân này là cái dùng để dẹp loạn trừ hại, không phải là để tranh đoạt vậy). (Tuân Tử – Nghị binh). Biểu thị công cụ dùng để ngăn chặn bạo hành trừ loại tai hại. c. Kì kiệt lực trí tử, vô hữu nhị tâm, dĩ tận thần lễ, sở dĩ báo dã 其 碣 力 致 死, 無 有 二 心, 以 盡 臣 禮, 所 以 報 也. ((Ông ta) hết lòng tận trung đến khi chết, làm tròn đạo bề tôi để báo đáp (quân ân).) (Tả truyện – Thành công tam niên). Biểu thị phương thức dùng để báo đáp. d. Nho dĩ văn loạn pháp, hiệp dĩ võ phạm cấm, nhi nhân chủ kiêm lễ chi, thử sở dĩ loạn dã 儒 以 文 亂 法, 俠 以 武 犯 禁, 而 人 主 兼 禮 之,此 所 以 亂 法. (Nho lấy văn để làm loạn pháp luật, Hiệp lấy (dựa vào) võ mà phạm điều cấm kị, (ấy thế mà) nhà vua giữ lễ đối với họ (dùng họ), cái đó là đầu mối của loạn vậy). (Hàn Phi Tử – Ngũ đố). Biểu thị nguyên nhân của loạn. e. Cổ chi nhân sở dĩ đại quá nhân giả vô tha yên, thiện suy kì sở vi nhi dĩ hĩ 古 人 所 以 大 過 人 者 無 他 焉, 善 推 其 所 為 而 已 矣. (Người đời xưa sở dĩ hơn xa mọi người, không phải là có cớ gì khác, (chỉ là) khéo suy rộng ra những việc làm (về đạo nghĩa) mà thôi). (Mạnh Tử – Lương Huệ vương thượng). Biểu thị nguyên nhân của việc hơn người, chữ “giả” là đại từ nhân xưng, chữ “sở” là chỉ thị. f. Lương nãi triệu cố sở tri hào lại, dụ dĩ sở vị khởi đại sự 梁 乃 召 故 所 知 豪 吏, 諭 以 為 所 起 大 事. (Lương bèn triệu tập quan lại và hào kiệt đã quen biết từ trước, hiểu dụ duyên cớ khởi nghĩa). (Sử kí – Hạng Vũ bản kỉ). Biểu thị nguyên nhân của khởi đại sự. g. Sở vị kiến tướng quân giả, dục dĩ trợ Triệu dã 所 為 見 將 軍 者, 欲 以 助 趙 也. (Sở dĩ gặp tướng quân là muốn cứu Triệu). (Chiến quốc sách – Triệu sách). Biểu thị nguyên nhân của sự gặp tướng quân, chữ “giả” là đại từ nhân xưng, chữ “sở” chỉ thị. h. Kì thê vấn sở dữ ẩm thực giả, tắc tận phú quí dã 其 妻 問 所 與 飲 食 者, 則 盡 富 貴 也. (Người vợ hỏi ăn uống với ai thì (chồng) đều (trả lời ăn uống) với người phú quý). (Mạnh Tử – Ly lâu hạ). Biểu thị người ăn uống với ai đó. “Chữ giả” là đại từ nhân xưng, chữ “sở” chỉ thị. a. Kí chi bắc thổ, mã chi sở sinh, vô hưng quốc yên 冀 之 北 土, 馬 之 所 生, 無 興 國 焉.(Phần đất phía bắc đất (châu) Kí là nơi sinh của ngựa, không hưng quốc được). (Tả truyện – Chiêu công tứ niên). “Sở” thay thế nơi chốn của sinh. b. Kì bắc lăng, Văn Vương chi sở tịch phong vũ dã 其 北 陵, 文 王 之 所 辟 風 雨 也. (Bắc lăng này là nơi mà Văn Vương tránh mưa gió). (Tả truyện – Hi công tam thập nhị niên). “Sở” thay thế nơi chốn của tránh mưa. c. Nam phương hữu điểu yên, danh viết Mông cưu, dĩ vũ vi sào, nhi biên chi dĩ phát, hệ chi vi điều. Phong chí điều chiết, noãn phá tử tử. Sào phi bất hoàn dã, sở hệ giả nhiên dã 南 方 有 鳥 焉, 名 曰 蒙 鳩, 以 羽 為 巢, 而 編 之 以 髮,繫 之 葦 苕, 風 至 苕 折, 卵 破 子 死. 巢 非 不 還 也, 所 繫 者 然 也.(Phương Nam có loài chim, tên gọi là Mông cưu, lấy lông vũ làm tổ, kết tổ bằng lông tơ, buộc tổ bằng cành lau. Gió đến cành lau gãy, trứng vỡ con chết. Chẳng phải là do tổ không làm xong, mà do chỗ buộc tổ vậy). (Tuân Tử – Khuyến học). Chú ý: đối tượng của “hệ” là “sào”, nơi chốn của “hệ sào” là “vi điều”, “sở hệ giả” chỉ “vi điều”. “Giả” là đại từ nhân xưng, “sở” chỉ thị. d. Tây phương hữu mộc yên, danh viết Xạ can, kính trường tứ thốn, sinh ư cao sơn chi thượng, nhi lâm bách nhận chi uyên. Mộc kính phi năng trưởng dã, sở lập giả nhiên dã 西 方 有 木 焉, 名 曰 射 干, 莖 長 四 寸, 生 於 高 山 之 上, 而 臨 百 仞 之 淵. 木 莖 非 能 長 也, 所 立 者 然 也.(Phương Tây có một loài cây, gọi nó là Xạ can, cành dài bốn tấc, sinh (mọc) ở đỉnh núi cao, bên vực sâu trăm nhẫn, không phải cành cây không dài (lớn) mà do cái chỗ nó đứng (mọc) vậy). “Sở lập giả” biểu thị nơi chốn của “lập”, chỉ núi cao. e. Lan hòe chi căn thị vi chỉ, kì tiệm chi tu, quân tử bất cận, tiểu nhân bất phục. Kì chất phi bất mĩ dã, sở tiệm giả nhiên dã 蘭 槐 之 根 是 為 芷, 其 漸 之 滫 , 君 子 不 近, 小 人 不 服. 其 質 非 不 美 也, 所 漸 者 然 也. (Rễ của cây lan hòe là chỉ, nó ngấm nước bẩn, quân tử không gần, tiểu nhân không phục. Chất của nó không phải không (tốt) đẹp, mà do chỗ nước bẩn vậy) ? Chú ý: đối tượng của “tiệm” là “chỉ”, thứ dùng để “tiệm chỉ”, “sở tiệm giả” chỉ “tu”. f. Đại quan đại ấp, thân chi sở tí dã. 大 官 大 邑, 身 之 所 庇 也. (Đại quan đại ấp là cái để bảo hộ (che chở) cho thân). (Tả truyện – Nhương công tam thập nhất niên). g. Nặc, tứ quân chi sở sử chi! 諾, 恣 君 之 所 處 之. (Vậy, ngài tùy ý đi đến nơi (ngài phải đi)). (Chiến quốc sách – Triệu sách). h. Tha nhật, Tử Hạ, Tử Trương, Tử Du dĩ Hữu Nhược tự thánh nhân, dục dĩ sở sự Khổng Tử sự chi, cưỡng Tăng Tử. 他 日, 子 夏, 子 張, 子 游 以 有 若 似 聖 人, 欲 以 所 事 孔 子 事 之, 強 曾 子. (Ngày khác, Tử Hạ, Tử Trương, Tử Du cho là Hữu Nhược giống thánh nhân, muốn đem cái lễ trước kia thờ Khổng Tử mà thờ ông ấy, cưỡng ép Tăng Tử (nghe theo)). (Mạnh Tử – Đằng Văn Công thượng) i. Bỉ Tăng, Sử Dương, Mặc, Sư Khoáng, Công Thùy, Ly Chu, giai ngoại kì đức, nhi dĩ thược loạn thiên hạ giả dã, pháp chi sở vô dụng dã 彼 曾, 史 楊, 墨, 師 曠,公 垂, 離 朱, 皆 外 立 其 德 而 以 爚 亂 天 下 者 也. 法 之 所 無 用 也. (Bọn Tăng Sâm, Sử, Dương, Mặc, Sư Khoáng, Công Thùy, Ly Chu kia đều lấy (cái khéo) của mình ra lòe người, mê hoặc thiên hạ, những trò ấy của họ vô dụng vậy). (Trang Tử – Khư khiếp). j. Tà uế tại thân, oán chi sở cấu 邪 穢 在 身, 怨 之 所 構. (Tuân Tử – Khuyến học). Cách dùng này rất đặc biệt, thực ra nên nói đây cũng là cách dùng cơ bản của chữ “sở” trong tiếng Hán cổ. Về sau sự vận dụng của giới từ ngày càng phổ biến, xuất hiện “sở tòng…”, “sở dĩ…”, “sở vị…”, “sở dữ…”…; nhưng cách dùng ấy, không hoàn toàn được thay thế bởi loại kết cấu mới phát triển này. Vì vậy, chúng ta trong cùng một tác phẩm vừa có thể gặp cách nói “đại quan đại ấp, thân chi sở tí dã”, lại vừa có thể nhìn thấy cách nói “đại quan đại ấp, sở dĩ tí thân dã”. Trong tiếng Hán cổ, chữ “sở” còn có thể dùng trước một số từ ngữ nào đó có tính danh từ, thay thế đối tượng được miêu tả. Cụm từ tổ thành như vậy cũng có tính danh từ. Ví dụ: a. Sát sở bất túc nhi tranh sở hữu dư, bất khả vị trí 殺 所 不 足 而 爭 所 有 餘, 不 可 謂 智. (Giết hại nhân dân (có) ít ỏi lại tranh cướp đất đai (có) dồi dào không thể gọi là thông minh). (Mặc tử – Công Thâu). b. Phù xử cùng lư ngách hạng, khốn quẫn chức lý, cảo hạng hoàng quắc giả, thương chi sở đoản dã; nhất ngộ vạn thặng chi chủ nhi tòng xa bách thặng giả, thương chi sở trường dã 夫 處 窮 閭 厄 巷. 困 窘 織 履, 搞 項 黃 馘 者, 商 之 所 短 也; 一 遇 萬 乘 之 主 而 從 車 百 乘 者, 商 之 所 長 也. ((Tôi) ở nơi hẻm nhỏ nghèo nàn đến nỗi phải tự đan dép, đói đến nỗi mặt vàng gầy rạc, đó là chỗ sở đoản không bằng người. Bỗng gặp vua một nước vạn cỗ xe nghe lời tôi mà tặng tôi trăm cỗ xe, đó là chỗ sở trường hơn người của tôi). (Trang Tử – Liệt Ngự Khấu). Nhưng cách dùng này thường ít thấy trong sách cổ. Trong tiếng Hán cổ, chúng ta thường nhìn thấy cách nói “hữu sở…” 所 有, “vô sở…” 無 所, “hà sở…” 何 所. Ví dụ: a. Bình nguyên quân do dự, vị hữu sở quyết 平 原 君 猶 豫, 未 有 所 決. (Bình Nguyên Quân do dự, chưa có quyết định nào cả). (Chiến quốc sách – Triệu sách). b. Cố nhân bất độc thân kì thân, bất độc tử kì tử, sử lão hữu sở chung, tráng hữu sở dụng, ấu hữu sở trưởng, căng quả cô độc phế tật giả giai hữu sở dưỡng, nam hữu phận, nữ hữu qui 故 人 不 獨 親 其 親, 不 獨 子 其 子, 使 老 有 所 終,壯 有 所 用, 幼 有 所長, 矜 寡 孤 獨 廢 疾 者 皆 有 所 養, 男 有 分, 女 有 歸. (Cho nên người ta không chỉ lo cho người thân của mình, không chỉ lo cho con cái của mình, làm cho người già chết được yên lành và người khỏe mạnh có chỗ dùng tới, trẻ nhỏ được lớn lên yên vui, người cô quả bơ vơ, bệnh tật đều được nuôi dưỡng. Đàn ông có chức phận, đàn bà có chồng). (Lễ kí – Lễ vận). c. Sở quí ư thiên hạ chi sĩ giả, vị nhân bài hoạn, thích nan, giải phân loạn nhi vô sở thủ dã; tức hữu sở thủ giả, thị thương cổ chi nhân dã. Trọng Liên bất nhẫn vi dã 所 貴 於 天 下 之 士 者, 為 人 排 患, 釋 難, 解 紛 亂 而 無 所 取 也; 即 有 所 取 者, 是 商 賈 之 人 也. 仲 連 不 n忍 為 也. (Cái quí kẻ sĩ trong thiên hạ là trừ loạn, cứu nguy cho người ta (nhân dân) dẹp bỏ (gỡ) rối loạn mà không nhận hưởng, (nếu như) có nhận hưởng thì đó là kẻ đi buôn vậy. Trọng Liên này không nỡ làm như vậy). (Chiến quốc sách – Triệu sách). d. Nhược xá Trịnh dĩ vi đông đạo chủ, hành lý chi vãng lai, cộng hữu phạp khốn, quân diệc vô sở hại 若 舍 鄭 以 為 東 道 主, 行 李 之 往 來, 共 有 之 困, 君 亦 無 所 害. (Nếu nhường cho Trịnh làm chủ ở phía đông, hành lí đi lại thiếu thốn khó khăn, nhà vua cũng chẳng có cái tổn hại gì.) (Tả truyện – Hi công tam thập niên). e. Ngã chi đại hiền dữ, ư nhân hà sở bất dung? 我 之 大 賢 與, 於 人 何 所 不 容. (Ta là người rất tốt, đối với người ở đâu (chỗ nào) mà chẳng dung nạp?). (Luận ngữ – Tử Trương). f. Nhậm thiên hạ dũng vũ, hà sở bất chu? 任 天 下 勇 武, 何 所 不 誅. (Làm kẻ dũng vũ trong thiên hạ, có ai không bị hãm hại?). (Sử kí – Hoài Âm hầu liệt truyện). “Hữu sở…”, “vô sở…” là cụm từ động tân, cụm từ chữ “sở” dùng làm tân ngữ của động từ “hữu” hoặc “vô”. “Hà sở…” là câu nghi vấn đảo trang chủ vị, cụm từ chữ “sở” dùng làm chủ ngữ, chữ “hà” dùng làm vị ngữ. “Hà sở bất dung” chính là “sở bất dung (giả) hà?” cách nói này có tính rộng khắp trong ý nghĩa, “hà sở bất dung” có nghĩa là “vô sở bất dung”(20). 6. Dùng làm liên từ. Có nghĩa là “nếu”, “nếu như”, “giả sử”, nối liền phân câu, biểu thị giả thiết(21). Ví dụ: a. Dư sở bỉ giả, thiên yếm chi! Thiên yếm chi! 予 所 否 者, 天 厭 之! 天 厭 之! (Nếu ta làm điều không đúng, trời sẽ ghét bỏ). (Luận ngữ – Ung dã)(22). b. Sở bất dữ cữu thị đồng tâm giả, hữu như bạch thủy 所 不 與 舅 氏 同 心 者, 有 如 白 水. (Nếu ta không cùng lòng với cậu (Tử Phạm) thì không nên trò trống gì.). (Tả truyện – Hi công nhị thập tứ niên)(23). 7. Dùng làm trợ từ. “Sở” thường kết hợp với giới từ “vị” làm thành kết cấu “vị…sở…”, biểu thị bị động(24), chỉ ra xuất xứ của hành vi(25). Ví dụ: a. Thuật nộ công Bố, vị Bố sở bại 術 怒 攻 布, 為 布 所 敗. (Viên Thuật tức giận công đánh Lã Bố, bị Lã Bố đánh bại). (Tam quốc chí – Ngụy thư – Vũ đế kỉ)(26). b. Phù trực nghị giả bất vị nhân sở dung 夫 直 議 者 不 為 人 所 容. (Phàm là người ngay thẳng không được người đời ưa chuộng). (Hàn Phi tử – Ngoại chử thuyết tả hạ)(27). Tóm lại, trong tiếng Hán cổ, “sở” là một từ đặc biệt, kiêm nhiều từ loại. Nó có vai trò rất lớn trong việc hình thành vốn từ vựng cũng như đảm nhận các thành phần ngữ pháp, tạo nên sự đa dạng, phong phú, độc đáo của tiếng Hán. Điều đặc sắc nhất là từ “sở” kết hợp với các từ, cụm từ khác tạo nên một ngữ danh từ. Riêng đối với tiếng Việt của chúng ta thì Phan Ngọc cho rằng: “Xét theo quan điểm xây dựng tiếng Việt cho khoa học thì đây là một yếu tố cực quí giá để tạo nên những khái niệm mang tính bị động”(28). Ở đây tác giả cũng chỉ mới nghiên cứu chữ “sở” trong phạm vi tiếng Hán cổ. Nếu muốn nghiên cứu sâu hơn, chúng ta còn phải nghiên cứu nó trong cả tiếng Hán hiện đại. Tất nhiên tác giả sẽ cố gắng thực hiện vấn đề này trong thời gian tới. Do trình độ và tài liệu hạn chế cho nên bài viết này không tránh khỏi nhiều khiếm khuyết, kính mong các nhà nghiên cứu chân tình phê bình và cho những ý kiến chỉ bảo quí báu. N.H.T CHÚ THÍCH (1) Tô Tân Xuân: Hán tự ngôn ngữ công năng luận, Giang Tây giáo dục xuất bản xã, 1994, tr.3. (2) Phan Ngọc: Mẹo giải nghĩa từ Hán Việt và chữa lỗi chính tả, Nxb. Thanh niên, 2000, tr.29. (3) Phạm Khánh Hoa, Chu Quảng Đức (chủ biên): Hiện đại Hán ngữ toàn công năng từ điển, Cát Lâm nhân dân xuất bản xã, 1998, tr.1093. (4) Hứa Thận: Thuyết văn giải tự, Trung Hoa thư cục ảnh ấn, 1999, tr.300; Lê Trí Viễn (chủ biên): Cơ sở ngữ văn Hán Nôm, tập 1, Nxb. Giáo dục, 1985, tr.178. (5) Hứa Thận…, Sđd. (6) Nguyễn Kim Thản (chủ biên): Từ điển Hán Việt, Nxb. Thế giới, 1996, tr.914. (7) Nguyễn Kim Thản, Sđd. (8) Từ Tông Tài (chủ biên): Cổ đại Hán ngữ khóa bản, tập 2, Bắc Kinh ngữ ngôn văn hóa đại học xuất bản xã, 2000, tr.83. (9) Hạ Chinh Nông (chủ biên): Từ Hải, Thượng Hải từ thư xuất bản xã, 1999, tr.1788. (10) Hiện đại Hán ngữ tiểu tự điển, Thương vụ ấn thư quán, 1981, tr.528; Tân Hoa tự điển, Nxb. Thuận Hóa, 1999, tr.472. (11) Hạ Chinh Nông, Sđd. (12) Hạ Chinh Nông, Sđd. (13) Hạ Chinh Nông, Sđd. (14) Từ Tông Tài, Sđd. (15) Hạ Chinh Nông, Sđd. (16) Nguyễn Kim Thản, Sđd. (17) Cổ Hán ngữ thường dùng tự tự điển, Thương vụ ấn thư quán, 2000, tr. 274. (18) Hạ Chinh Nông, Sđd. (19) Hạ Chinh Nông, Sđd. (20) Vương Lực (chủ biên): Cổ đại Hán ngữ, Trung Hoa thư cục, 1992, tr.363; Lê Văn Quán: Giáo trình tiếng Hán cổ đại, Nxb. Đại học trung học chuyên nghiệp, 1991, tr.104. (21) Từ Tông Tài, Sđd. (22) Từ Tông Tài, Sđd. (23) Từ Tông Tài, Hạ Chinh Nông, Sđd. (24) Cổ đại Hán ngữ thường dùng …, Sđd. (25) Hạ Chinh Nông, Sđd. (26) Cổ đại Hán ngữ thường dùng …, Sđd. (27) Từ Tông Tài, Sđd. (28) Phan Ngọc, Sđd., tr.281.

Tìm Hiểu Ý Nghĩa Về Bốn Chữ “Cửu Huyền Thất Tổ” / 2023

Đa số gia đình Việt Nam dù ở nông thôn, thành thị, nghèo hay giàu đều có bàn thờ tổ tiên hết sức tôn nghiêm đặt chính giữa căn nhà, trên khuôn kiếng lớn nổi lên hai màu đỏ vàng có viết 4 chữ Nho “Cửu huyền Thất tổ” 九玄七祖 chính giữa bàn thờ và hai câu đối hai bên: Tôn công thất tổ nghĩa cao thâm. Sùng đức cửu huyền ân thượng trọng 尊功七祖義高深. 崇 德九玄恩上重. Dù chưa biết cặn kẽ, nhưng nội dung không ngoài ý nghĩa: Có ông bà, cha mẹ mới có ta và… cây có cội nước có nguồn.

Vậy thờ “Cửu huyền Thất tổ” là thờ những ai?

Theo bài “Cửu huyền Cửu tộc” của Đào Hữu Chủ thì “Cửu huyền Thất tổ” là chỉ 7 vị tổ cách người cháu hiện tại (người chủ lễ) là 9 đời (tính luôn đời người cháu). Chữ “Huyền” ở đây có nghĩa là đã xa. Cháu đời xa là Huyền tôn, xa nữa gọi là Viễn tôn.

Trong gia phả thường dùng: Gọi cụ tổ thứ nhất là Thủy tổ, con của thủy tổ là tổ thứ hai, cháu của thủy tổ là tổ thứ ba, tiếp tục đến tổ thứ 4, tổ thứ 5, tổ thứ 6, tổ thứ 7. Xếp ngược lại, ông nội của chủ lễ là tổ đời thứ ba, cụ nội của người chủ lễ là tổ đời 4, kỵ nội của người chủ lế là đời thứ 5… cụ tổ cửu đại đời 9 thì vừa đúng 7 cụ tổ (thất tổ). Do vậy hai chữ “Cửu huyền”có nhiệm vụ bổ nghĩa cho”Thất tổ” để làm rõ bảy vị tổ.

Còn với ý nghĩa của Thiện Mộc Lan trong bài “Gia lễ Việt Nam với đạo thờ cúng ông bà” thì cho rằng: “Cửu huyền thất tổ” là biểu tượng chung.

Cửu: chín, thứ chín. Huyền: cháu 4 đời gọi là huyền tôn ở đây chữ huyền có nghĩa là đời, thế hệ. Thất: bảy/ Thất tổ: Bảy ông tổ nhà mình. Thờ “Cửu huyền thất tổ” là thờ Tổ tiên 9 đời của dòng họ.

Nho giáo thời xưa quy định cách thờ Tổ tiên có thứ bậc từ dân đến vua như sau:

– Sĩ và thứ dân chỉ được thờ tới nhất tổ (ông nội).

– Các quan đại phu được thờ tới Tam tổ (ông sơ).

– Hoàng đế (thiên tử) thì thờ tới thất tổ (tức ông sơ của ông sơ)

Theo quy định này, thứ dân không được thờ Thất tổ. Nhưng muốn thờ những bậc cao hơn thì thứ dân phải thờ “Cửu huyền” tránh dùng chữ “Thất tổ” để khỏi bị tội phạm thượng.

Từ bản thân đến ông thỉ tổ là chín đời, cho nên mới gọi là “Cửu huyền” lại còn cách xếp và giải thích khác lấy bản thân làm gốc, lên trên 4 đời, dưới 4 đời: 1- Cao tổ (ông sơ) 2- Tằng tổ (ông cố) 3- Nội tổ (ông nội) 4 – Phụ thân (cha) Bản thân. 1- Tử (con trai) 2- Tôn (cháu nội) 3- Tằng tôn (Chắt, cháu cố) 4- Huyền tôn (chít, cháu sơ).

Như vậy, ta thấy có sự mâu thuẫn, thờ Cửu huyền, cúng lạy Cửu huyền tức là bản thân ta cũng lạy ta và lạy cả con cháu của mình nữa sao? Điều này được lý giải nhiều lẽ: Vấn đề trên chỉ nhắm phân định cho dễ hiểu, trong đó gồm có người sống và người chết, tượng trưng đủ âm, dương. Gọi như thế để chỉ 3 đời (tam thế) tiếp nối nhau. Đời quá khứ là Tổ tiên. Đời hiện tại là mình. Đời tương lại là con cháu mình. Gọi như thế để hiểu rằng trong cuộc đời còn có sự vay trả. Bản thân mình đứng giữa, vay lớp trên 4 đời, trả lớp dưới 4 đời. Cũng từ ý nghĩa trên, bản thân ta, xuất phát từ những việc làm tốt hay xấu đều có ảnh hưởng đến Tổ tiên, đời trước mình, đồng thời cũng ảnh hưởng đến con cháu, đời sau mình.

Còn theo Tiến sĩ Lê Mạnh Thát (Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh) thì “Cửu huyên thất tổ” được biên khảo từ tác phẩm Sự Lý Dung Thông viết bằng thể thơ song thất lục bát của Thiền sư Hương Hải được ghi trong Toàn tập Minh Châu có đề cập bốn chữ này trong câu:

Thích độ nhân miễn tam đồ khổ

Thoát cửu huyền thất tổ siêu thăng.

Nghĩa là: Giáo lý đức Phật Thích Ca hóa độ chúng sinh để thoát khỏi ba đường khổ: Đại ngục, ngạ quỷ, súc sinh và có khả năng cứu thoát Cửu huyền và Thất tổ được siêu thăng.

Cửu huyền: “Huyền” ở đây vốn có nghĩa theo nhà Phật là “đen”, có từ vô lượng kiếp chúng sanh luân hồi sống chết, khi thân xác này rã rời, phân ly trả về cho tứ đại, những chất tinh tủy xương máu và thịt tan rã, hủy hoại đều biến thành màu đen nên gọi là “Huyền”. Bởi chín thế hệ này vẫn xoay, sống chết như vậy nên gọi là “Cửu Huyền”.

Thất tổ: Bảy đời (bảy ông tổ): Cao, Tằng, Tổ, Cao Cao, Tằng Tằng, Tổ Tổ, Cao tổ. Tổ là ông nội của đời mình, đi ngược lên sáu đời nữa gọi là Thất tổ. Như vậy, chữ Cửu huyền bao quát hơn chữ Thất tổ. Vì Thất tổ chỉ các thế hệ đi trước, còn Cửu huyền không chỉ bốn thế hệ trước mà còn nhắc đến bốn thế hệ sau. Chính vì vậy nơi thờ phụng những vị quá vãng còn được gọi là “Nhà thờ Cửu huyền”.

Dù hiểu theo nghĩa nào chăng đi nữa, thì bốn chữ “Cửu huyền Thất tổ” không ngoài ý nghĩa bổn phận làm con cháu phải kính trọng, khắc sâu trong tâm khảm nhớ ơn ông bà cha mẹ.

Nước chảy ra thương cha nhớ mẹ

Nước chảy vào nhớ mẹ thương cha.

Dù lịch sử trải qua bao thăng trầm, dù chiến tranh cướp mất nhiều nhà cửa, nơi thờ tự Tổ tiên, nhưng với lòng hiếu kính ông bà cha mẹ luôn được giữ gìn sâu lắng. Đây là niềm tự hào, người Việt Nam luôn biểu hiện lòng tôn trọng, nhớ ơn Tổ tiên, cha mẹ nhiều đời, nhiều kiếp qua việc thờ cúng. Từ lâu các vua chúa thường đi Tế giao (cúng trời đất) ở một nơi được xem là linh thiêng, hoặc cúng tổ tiên bên trong Thái miếu. Nền văn hóa Việt Nam từ thời cổ, trung đại cũng vậy. Các vua thường đi cúng tế nơi Thái Miếu, Người dân dã thì thờ cúng tại nhà và hàng năm làm lễ cúng giỗ. Nền văn hóa tinh thần này đã được duy trì, phát huy trong lòng mỗi người dân Việt Nam. Đó là bàn Thờ “Cửu huyền Thất tổ” hàng đêm luôn hương khói bàn thờ “Cửu huyền thất tổ” trước để nhớ Tổ tiên, ông bà, cha mẹ, sau hồi hướng trong một ngày mình làm được điều gì tốt và điều gì chưa tốt, cần phải sửa đổi, đó cũng là cách “Uống nước nhớ nguồn”. “Cây có gốc mới đâm chồi xanh ngọn. Nước có nguồn mới bể rộng sông sâu”. Chúng ta nên nhớ từ mọi ý nghĩ, việc làm, bản thân (thân, khẩu, ý) luôn ảnh hưởng đến “Cửu huyền Thất tổ” trong hiện tại, tương lai cũng như quá khứ.

Tìm Hiểu Ý Nghĩa Của Chữ Nam Mô A Di Đà Phật / 2023

Nếu là một tín đồ của Phật giáo chắc hẳn ai cũng biết đến câu niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”. Vậy ý nghĩa câu Nam Mô A Di Đà Phật là gì? Câu niệm có tác dụng như thế nào? Cùng chúng tôi đi giải nghĩa chi tiết trong bài viết này.

Ý nghĩa 6 chữ Nam Mô A Di Đà Phật

Nếu ai yêu thích Phật giáo chắc chắn không thể không biết đến câu niệm Nam Mô A Di Đà Phật. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu hết được ý nghĩa thật sự của câu chú. Theo quan niệm của Phật Giáo, Nam Mô A Di Đà Phật có nghĩa Lục Tự Hồng Danh được dịch là (Danh lớn 6 chữ).

Sáu chữ này đã được lưu truyền ngàn đời không những trong giới Phật Giáo mà còn có sức ảnh hưởng sâu rộng khắp thế giới. Cụ thể  ý nghĩa câu Nam Mô A Di Đà Phật như sau:

Nam Mô: Có nghĩa là kính lễ, quy y, cứu độ, thờ phụng, quy mạng. Hiểu một cách đơn giản là quyết tâm vâng theo và nương tựa, gửi đời cho nhà Phật. Khi các phật tử niệm Nam Mô là giai đoạn bắt đầu đi trên con đường Giác Ngộ, tránh xa mọi tội lỗi để về với Đức Phật từ bi.

A Di Đà: Có nghĩa là Vô Lượng Quang và Vô Lượng Thọ. Từ này dùng để chỉ năng lực bất tư nghị của Đức Di Đà. Phật tử phải duy trì niệm trên suốt con đường Giác Ngộ của mình.

Phật: Có nghĩa là người Giác Ngộ, thoát khỏi luân hồi.

Ý nghĩa của câu Nam Mô A Di Đà Phật là Kính lễ, thể hiện sự tôn kính với đấng Giác ngộ vô lượng. Hoặc cũng có thể hiểu là con quay về nương tựa nơi cửa Phật, nương tựa vào đấng Giác ngộ vô lượng.

Tác dụng của việc niệm Nam Mô A Di Đà Phật

A Di Đà Phật là một trong những vị Phật quan trọng nhất của giới Phật giáo bắc tông. Ngài được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau như Vô Lượng Quang Phật, Vô Lượng Phật hay Vô Lượng Thọ Phật. Niệm Phật A Di Đà là một trong những cách tu dễ dàng và nhanh chóng để thành chính quả. Khi niệm cần dùng tâm để cảm,  trau dồi đức hạnh và xoa dịu đi những khổ đau cho mình cùng những người xung quanh.

Niệm Phật A Di Đà còn giúp phật tử tự chuyển hóa ý nghĩ, hành động và lời nói của mình trở nên thiện lành hơn. Với 48 lời nguyện, phật tử sẽ đạt tới tánh thanh tịnh của chính mình.

Bằng việc tự chánh niệm phật con người sẽ thoát khỏi vực thẳm của tội lỗi. Đây là ánh sáng thức tỉnh cho mỗi người. Lúc này, tâm sẽ cảm được những ý nghĩa tốt đẹp từ cuộc sống. Qua bốn đức tính như: Từ, Bi, Hỷ, Xả, người niệm phật sẽ biết cách sống có đạo đức hơn.

Niệm Nam Mô A Di Đà Phật giúp ta xóa bỏ những cảm giác tiêu cực từ sự thù hằn, tức giận,…

Niệm phật A Di Đà giúp chúng ta thoát khỏi dục vọng, sự tham lam và thèm khát thay vào đó là một tâm hồn trong sáng, thoát khỏi mọi đau khổ.

Niệm phật giúp con người sống tích cực hơn trong cả suy nghĩ và hành động.

Niệm phật giúp chúng ta có thêm niềm tin, hy vọng vào những điều tốt đẹp trong cuộc sống.

Niệm Phật như một lời nhắc chúng ta là con của Phật, mọi suy nghĩ và hành động đều phải tuân theo lời răn của Phật.

Cách niệm Nam Mô A Di Đà Phật

Khi biết được ý nghĩa câu Nam Mô A Di Đà Phật chắc chắn bạn sẽ thấy việc niệm Phật có phần quan trọng như thế nào trong cuộc sống. Tuy nhiên, để niệm đúng cách, chúng ta phải coi đây như là một lời nhắc nhở rằng mình là con của Phật.

Tích lũy thật nhiều công đức

Chăm chỉ nghiền ngẫm giáo pháp của Phật, lấy đó là nền tảng phát triển tư duy và trí tuệ.

Thực hành giáo pháp để thoát khỏi những đau khổ của cuộc sống

Phát tâm Bồ đề đến nhiều người khác, hướng dẫn họ đi theo con đường chân chính để được hưởng hạnh phúc lâu dài.

Niệm Nam Mô A Di Đà Phật nhất tâm bất loạn

Để đạt được tới cảnh giới nhất tâm bất loạn, tâm hồn chúng ta phải ở trong trạng thái tĩnh lặng. Muốn đạt tới trạng thái này, phật tử phải phát tâm Bồ đề với mong muốn giác ngộ thoát khỏi mọi ưu phiền và ra sức giúp đỡ chúng sinh.

Tìm Hiểu Về U Não / 2023

 U não

PGS.TS. Hà Hoàng Kiệm, BV 103 

1. Đại cương

1.1. Khái niệm

U não là những khối u hình thành do sự phát triển bất thường của các tế bào trong não. Có nhiều loại u não khác nhau, một số loại là lành tính (không phải ung thư) và một số loại khác là ác tính (ung thư). U não có thể bắt đầu ngay từ trong não (u não nguyên phát) hoặc di căn từ các bộ phận khác đến não (u não thứ phát). Lựa chọn điều trị u não phụ thuộc vào loại u não, kích thước, vị trí u não và tình trạng sức khỏe chung của bạn. Tài liệu này nhằm mục đích cung cấp một cái nhìn khái quát về các loại ung thư khác nhau của não bộ (u não). Điều trị và tiên lượng rất khác nhau, tùy thuộc vào nhiều yếu tố như loại khối u và vị trí u trong não.

1.2. Sơ lược giải phẫu não bộ

Các phần chính của não bộ bao gồm:

– Đại não: được chia thành bán cầu não phải (bên phải) kiểm soát ở phía bên trái của cơ thể, và bán cầu não trái điều khiển phía bên phải của cơ thể. Mỗi bán cầu được chia thành nhiều phân vùng nhỏ, các vùng chính là thùy trán, thùy thái dương, thùy đính và thùy chẩm. Đại não cũng là nơi suy nghĩ và lưu trữ trí nhớ.

– Tiểu não: nằm phía sau và bên dưới đại não. Một trong những chức năng chính của tiểu não là giữ thăng bằng và phối hợp vận động.

– Thân não: giúp điều khiển những chức năng sống cơ bản như tim, hô hấp và huyết áp. Các sợi thần kinh từ đại não cũng đi qua thân não để tới tủy sống.

– Màng não: đây là lớp màng mỏng nằm giữa xương sọ và não bộ. Lớp ngoài cùng sát hộp sọ được gọi là màng cứng. Lớp kế được gọi là màng nhện. Dưới mô màng nhện là dịch não tủy (CSF), là lớp dịch bao quanh não và tủy sống.

– Tuyến yên: giải phóng các hormone khác nhau vào máu.

Loại tế bào chủ yếu trong não được gọi là neuron (tế bào thần kinh). Có hàng triệu tế bào thần kinh trong não. Tế bào thần kinh có sợi trục dài và mỏng, giúp nó truyền tín hiệu đến các bộ phận khác của não, và xuống tủy sống đến tất cả các bộ phận của cơ thể.

Não cũng chứa các tế bào thần kinh đệm. Các tế bào thần kinh đệm nâng đỡ, nuôi dưỡng và bảo vệ tế bào thần kinh. Có nhiều loại tế bào thần kinh đệm khác nhau, bao gồm tế bào hình sao, tế bào ít nhánh và tế bào màng não thất.

Cấu trúc neuron thần kinh.

1.3. Khái niệm về khối u

1.3.1. Khối u

Khối u lành tính có thể hình thành ở nhiều nơi trong cơ thể. Khối u lành tính có vỏ bao bọc, phát triển chậm và không phát tán hoặc xâm lấn vào các mô khác. U lành tính không phải là ung thư và thường không đe dọa tính mạng. U lành tính thường không gây hại gì nếu không can thiệp. Tuy nhiên, một số khối u lành tính có thể gây ra vấn đề khi nó đè ép vào cơ quan lân cận. Ví dụ, một số u phát triển khá lớn và có thể gây ra các triệu chứng do tăng áp lực tại chỗ (như trong não). Cũng vậy, một số khối u lành tính phát sinh từ các tế bào trong tuyến nội tiết (xem khối u tuyến yên) có thể làm cho tiết quá nhiều nội tiết tố và gây ra tác dụng không mong muốn.

U ác tính (ung thư) là một khối mô tăng sinh chứa những tế bào ung thư phân chia không ngừng, không có vỏ bọc. Trong quá trình phát triển, nó xâm lấn vào các mô và cơ quan lân cận gây tổn thương cho các cơ quan này. Ngoài ra, tế bào ung thư có thể bong khỏi khối u ban đầu và trôi theo dòng máu hay bạch huyết gieo rắc đến các cơ quan khác. Từ đó chúng tiếp tục tăng sinh và hình thành khối u thứ phát gọi là di căn. Những khối u thứ phát này có thể tiếp tục phát triển, xâm lấn, gây tổn thương mô lân cận và di căn tiếp.

Ung thư là bệnh của tế bào trong cơ thể. Cơ thể chúng ta được cấu thành từ hàng triệu tế bào nhỏ bé. Có rất nhiều loại tế bào và rất nhiều loại ung thư phát triển từ các loại tế bào khác nhau. Đặc điểm chung của tất cả các loại ung thư là tế bào ung thư có cấu trúc bất thường và phân chia không kiểm soát để tạo thành một khối gọi là khối u.

Mỗi loại ung thư có mức độ nguy hiểm, khả năng điều trị hiệu quả và tiên lượng khác nhau. Ung thư không phải là một tình trạng bệnh duy nhất. Với mỗi trường hợp ung thư, điều quan trọng là phải xác định chính xác đó là loại ung thư gì, kích thước như thế nào và đã có di căn hay chưa. Những thông tin này cho phép bạn có được những lựa chọn điều trị thích hợp và tiên lượng bệnh.

1.3.2. Khối u nguyên phát và thứ phát

Khối u đầu tiên phát triển gọi là u nguyên phát. Các khối u ác tính có thể gieo rắc tế bào ung thư sang các bộ phận khác của cơ thể để tạo thành các khối u thứ phát (u di căn). Những khối u thứ phát sau đó có thể phát triển, xâm lấn và gây tổn hại các mô lân cận và gieo rắc một lần nữa.

–  U ác tính nguyên phát ở não

U não nguyên phát ác tính là những ung thư phát sinh từ tế bào trong não. Các tế bào của khối u phát triển và gây hại mô não bình thường. Cũng giống các các khối u não lành tính, u ác tính có thể làm tăng áp lực nội sọ. Tuy nhiên, không giống như hầu hết các loại khối u ác tính khác, u não nguyên phát hiếm khi di căn đến các bộ phận khác của cơ thể.

Có nhiều loại u não ác tính khác nhau. Các loại khác nhau phát triển từ tế bào khác nhau trong não. Theo hướng dẫn chung, mỗi loại được phân độ (grade) từ 1 đến 4. Các khối u độ 1 và 2 được cho là độ ác thấp (low – grade) và độ 3 và 4 được cho là độ ác cao (high – grade). Càng phân độ cao, các khối u càng có xu hướng xâm lấn mạnh hơn và phát triển nhanh hơn. Lựa chọn điều trị và tiên lượng có thể thay đổi tùy theo loại, phân độ của khối u.

– U ác tính thứ phát ở não

U não ác tính thứ phát có nghĩa là ung thư bắt đầu trong một phần khác của cơ thể đã di căn đến não. Nhiều loại ung thư có thể di căn đến não. Các loại phổ biến nhất là ung thư vú, phổi, đại tràng, thận và ung thư da (u hắc tố).

1.3.3. Các loại u nguyên phát ở não

– U màng não (Meningioma):

U màng não thường là lành tính. Chúng phát triển từ các tế bào trong các màng não.

– U nguyên bào tủy (Medulloblastoma):

Đây là những khối u ác tính grade cao phát triển ở tiểu não. U không phổ biến ở người lớn, nhưng là một trong hai loại u não phổ biến nhất ở trẻ em. Loại còn lại là u sao bào ở tiểu não.

– U thần kinh đệm (Glioma):

Đây là u não nguyên phát ác tính phát triển từ các tế bào thần kinh đệm. Có nhiều loại khác nhau, tùy thuộc vào các tế bào gốc, ví dụ:

+ U sao bào (Astrocytoma – có nguồn gốc từ các tế bào hình sao). Có nhiều loại khác nhau của u sao bào. Chúng bao gồm:

* U sao bào độ ác thấp.

* U sao bào thoái sản. Đây là u có độ ác cao.

* Glioblastoma multiforme (u nguyên bào thần kinh đệm đa dạng). Đây là một loại u độ ác cao có xu hướng phát triển khá nhanh. Nó là loại phổ biến nhất của u não nguyên phát ác tính ở người lớn.

+ U tế bào thần kinh ít nhánh (Oligodendroglioma – có nguồn gốc từ tế bào ít nhánh). Có thể có nhiều độ ác tính khác nhau.

+ U tế bào ống nội tủy (Ependymoma – có nguồn gốc từ các tế bào màng não thất). Hiếm, nhưng thường là độ ác thấp.

– U ngoại bì thần kinh nguyên thủy (PNETs):

Đây là những khối u rất giống với u nguyên bào tủy (Medulloblastoma) và chủ yếu gặp ở trẻ em.

– U tuyến yên:

Có nhiều loại u khác nhau phát sinh từ các tế bào khác nhau trong tuyến yên. Chúng có xu hướng lành tính. Tuy nhiên, các tế bào của khối u có thể sản xuất lượng lớn các nội tiết tố có thể gây ra các triệu chứng khác nhau. Khi u lớn lên, chúng có thể gây ra các triệu chứng chèn ép. Hai dây thần kinh thị giác (dây thần kinh mắt) nằm gần tuyến yên và do đó, u tuyến yên lớn có thể chèn ép vào thần kinh thị giác và ảnh hưởng đến thị lực.

– U tế bào bao sợi thần kinh (Schwannoma):

Đây là một khối u lành tính phát sinh từ các tế bào Schwann bao quanh các dây thần kinh. Thường gặp nhất là u thần kinh thính giác từ tế bào bao quanh dây thần kinh số VIII đi vào ống tai trong, gây điếc bên bị u và chóng mặt.

– Một số loại u não khác:

Còn nhiều loại u lành tính và ác tính hiếm gặp khác của não.

1.3.4. Nguyên nhân gây ra u não

– Nguyên nhân:

Nguyên nhân của đa số u não lành tính và u não ác tính chưa được biết rõ.

Yếu tố di truyền có thể là một nguy cơ mắc bệnh cho một số người, có lẽ trong khoảng 1 trong 20 trường hợp. Ví dụ, những người có bệnh di truyền như đa u sợi thần kinh (Neurofibromatosis) type 1, hội chứng Turcot, hội chứng ung thư Li-Fraumeni, và bệnh xơ cứng củ (tuberous sclerosis) có nguy cơ bị u thần kinh đệm cao hơn so với mức trung bình của dân số. Khi những người này mắc bệnh u thần kinh đệm, nó hay xảy ra ở tuổi nhỏ hoặc thanh niên. Tuy nhiên những trường hợp này chỉ là một phần nhỏ của tất cả các u thần kinh đệm.

Xạ trị não có thể làm tăng nguy cơ u não.

Không có bằng chứng rõ về việc sử dụng điện thoại di động làm tăng nguy cơ u não. Di căn não phát sinh từ căn bệnh ung thư khác nhau của cơ thể. Nó có nguyên nhân khác nhau.

1.3.5. Tỉ lệ gặp u não

U não lành tính và u não ác tính nguyên phát không phải là bệnh phổ biến. Nhìn chung, chúng xảy ra trong khoảng 12/100.000 người mỗi năm.

Các loại hay gặp nhất ở người lớn là u màng não lành tính và u thần kinh đệm được gọi là u nguyên bào thần kinh đệm đa dạng (GBM). Một số loại là rất hiếm. U não có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi. Một số loại (như u nguyên bào tủy) là phổ biến hơn ở trẻ em, và một số khác hay gặp hơn ở người lớn. Nhìn chung, các khối u mà có xu hướng xảy ra ở người lớn sẽ có tần suất mắc bệnh tăng theo tuổi. Di căn não thường gặp hơn u não lành tính và u não ác tính nguyên phát.

2. Lâm sàng và xét nghiệm

2.1. Triệu chứng lâm sàng

– Các triệu chứng thường gặp:

Triệu chứng ban đầu có thể bao gồm đau đầu và cảm thấy khó chịu. Đau đầu là do tăng áp lực nội sọ. Những triệu chứng này có thể có rồi hết và lại có, thường nặng hơn vào buổi sáng và nặng dần theo thời gian. Ho, hắt hơi và khom lưng có thể làm đau đầu nặng lên. Bệnh nhân u não cũng đôi khi bị co giật (động kinh). Khi khối u lớn có thể gây ngủ gà hay lơ mơ nhất là các u vùng trán.

Lưu ý: hầu hết những người bị nhức đầu hoặc động kinh không có một khối u não.

– Các triệu chứng do vị trí của khối u trong não:

+ Yếu một cánh tay, chân, một phần của khuôn mặt, hoặc mắt.

+ Bất thường về thăng bằng, phối hợp động tác, khả năng nhìn, nghe, nói, giao tiếp hay nuốt.

+ Không ngửi được mùi.

+ Chóng mặt, đi đứng không vững.

+ Tê hay yếu trong một phần của cơ thể.

+ Lú lẫn, ngủ gà

+ Thay đổi nhân cách.

Những triệu chứng này có xu hướng phát triển nặng dần theo thời gian.

– Triệu chứng thực thể:

Nếu bệnh nhân có các triệu chứng nghi ngờ bị u não, cần khám kiểm tra các chức năng của não và các dây thần kinh (vận động, phản xạ, thị giác, vv).

2.2. Cận lâm sàng

Xét nghiệm thường dùng nhất để chẩn đoán hay loại trừ u não là chụp phim cộng hưởng từ (MRI) hoặc CT scan. Hình ảnh khối u là một khối giảm tỉ trọng, ranh giới không rõ ràng, sau khi tiêm thuốc cản quang nếu khối u ngấm thuốc mạnh thì thường là ác tính do mạch máu trong khối u ác tính tăng sinh. Nếu phát hiện có u, cần làm thêm một số kỹ thuật chụp hay xét nghiệm khác để đánh giá u. Ví dụ, chụp xạ hình (PET), chụp PET/CT hoặc chụp mạch máu đôi khi được chỉ định để có thêm thông tin về khối u.

Đôi khi, để chắc chắn loại u, cần phải sinh thiết khối u. Mẫu mô sinh thiết được khảo sát dưới kính hiển vi để tìm tế bào bất thường. Để sinh thiết u não, phải thực hiện một cuộc phẫu thuật nhỏ, thường dưới gây mê. Kỹ thuật gồm khoan một lỗ qua xương sọ và qua đó xuyên một kim nhỏ vào trong não để lấy mẫu mô u. Khảo sát dưới kính hiển vi mẫu sinh thiết sẽ giúp xác định loại của khối u một cách chính xác, và cả phân độ nếu đó là u ác tính.

Nếu u có biểu hiện của u di căn, thì cần làm xét nghiệm máu và các xét nghiệm khác trên các bộ phận khác của cơ thể để truy tìm khối u nguyên phát. Ví dụ, khá thường gặp là ung thư phổi di căn tới não. Vì vậy, chụp X quang ngực có thể được thực hiện nếu nghi ngờ. Xét nghiệm nội tiết tố khác nhau có thể được thực hiện nếu nghi ngờ có một khối u tuyến yên.

Hình chụp MRI não của một số bệnh nhân có các khối u khác nhau: u màng não (Hình A, mũi tên đỏ), u nguyên bào tủy (hình B, mũi tên xanh), u nguyên bào thần kinh đệm đa dạng (hình C, mũi tên xám), u tuyến yên (hình D, mũi tên trắng), u tế bào bao sợi thần kinh (Schwannoma) ở dây thần kinh số VIII bên trái (hình E, mũi tên vàng).

3. Điều trị

Các phương pháp điều trị u não chính bao gồm phẫu thuật, hóa trị, xạ trị và thuốc để kiểm soát các triệu chứng ví dụ như co giật. Việc lựa chọn một hoặc nhiều liệu pháp tùy từng trường hợp cụ thể, phụ thuộc vào các yếu tố như loại u, phân độ (grade) của khối u nếu nó là ác tính, vị trí của khối u và tình trạng sức khỏe chung của bệnh nhân.

3.1. Phẫu thuật

Phẫu thuật thường là điều trị chính cho u não lành tính và u não ác tính nguyên phát. Mục đích của phẫu thuật nhằm lấy bỏ mô u (hay chỉ một phần khối u) với tổn thương ít nhất có thể lên mô não lành. 

3.2. Xạ trị

Xạ trị là phương pháp điều trị sử dụng chùm tia bức xạ có năng lượng cao chiếu tập trung vào tế bào ung thư để tiêu diệt tế bào ung thư hoặc làm dừng quá trình phân chia của tế bào ung thư.

Xạ trị đôi khi được sử dụng thay cho phẫu thuật khi khối u não ác tính không thể mổ được. Hoặc nó được sử dụng kết hợp với phẫu thuật khi ca mổ không thể cắt bỏ toàn bộ khối u (vì phải bảo vệ mô não lành) hoặc để tiêu diệt hết tế bào ung thư có thể còn sót sau khi phẫu thuật (những tế bào ác tính rải rác không thể thấy được bằng mắt thường khi phẫu thuật).

Xạ trị gamma (Gamma knife): dùng tia gamma để làm hoại tử khối u khi kích thước khối u không quá lớn và không thể phẫu thuật vì có thể gây tổn thương nhiều mô não lành.

 

Điều trị bằng Gamma Knife một u nguyên bào thần kinh đệm đa dạng ở thùy thái dương trái, sau 20 ngày kích thước khối u nhỏ lại.

3.3. Hóa trị

Hóa trị là trị liệu sử dụng các loại thuốc chống ung thư để tiêu diệt các tế bào ác tính, hoặc để dừng quá trình phân chia của chúng. Nó có thể được dùng kết hợp với các phương pháp điều trị khác như phẫu thuật hoặc xạ trị, một lần nữa, tùy thuộc vào các yếu tố khác nhau ví dụ như các loại khối u.

3.4. Liệu pháp điều trị đích

Sử dụng các thuốc nhắm tới một số phân tử (đích tấn công) trong thành phần cấu trúc hoặc chuyển hóa của tế bào ung thư, gây biến đổi làm mất tác dụng của các thành phần này dẫn tới chết tế bào ung thư được gọi là phương pháp điều trị đích.

3.5. Liệu pháp hormon

Sử dụng một số hormon hoặc các cytokin tác động đến tế bào ung thư để hủy các tế bào này.

3.6. Thuốc để kiểm soát các triệu chứng

Nếu bạn có cơn động kinh gây ra bởi khối u não, việc dùng thuốc chống co giật thường sẽ kiểm soát được cơn. Thuốc giảm đau có thể cần thiết cho triệu chứng đau đầu. Thuốc steroid cũng thường được dùng để giảm viêm xung quanh khối u. Điều này làm giảm áp lực bên trong hộp sọ, giúp giảm bớt các triệu chứng đau đầu và các triệu chứng do tăng áp lực nội sọ khác. Thuốc ức chế tiết hormon với khối u tuyến yên có tiết hormon.

3.5. Một số lưu ý

– Trong một số trường hợp, điều trị nhằm mục đích trị dứt hay khỏi bệnh. Nếu một khối u lành tính có thể mổ cắt bỏ thì khả năng có thể khỏi bệnh. Khả năng  trị khỏi u não ác tính rất thay đổi, tùy thuộc vào loại khối u, phân độ và các yếu tố khác như vị trí trong não. Vì vậy, với khối u ác tính, người ta có xu hướng sử dụng từ lui bệnh (remission) hơn là khỏi bệnh. Lui bệnh có nghĩa là không có bằng chứng của bệnh ung thư sau khi điều trị. Nếu bệnh nhân được cho là lui bệnh thì có khả năng khỏi bệnh. Tuy nhiên, trong một số trường hợp ung thư sẽ tái phát nhiều tháng hoặc nhiều năm sau đó. Đây là lý do tại sao người ta tránh dùng từ khỏi bệnh.

– Trong một số trường hợp, điều trị nhằm mục đích kiểm soát bệnh ung thư. Nếu việc chữa khỏi là không thực hiện được, điều trị để hạn chế sự phát triển, gieo rắc của ung thư, để nó tiến triển chậm hơn. Điều này có thể giúp cho bệnh nhân hết các triệu chứng trong một thời gian.

– Trong một số trường hợp, điều trị chỉ nhằm mục đích giảm nhẹ các triệu chứng (điều trị giảm nhẹ). Ví dụ, nếu ung thư đã tiến triển, bệnh nhân có thể yêu cầu thuốc giảm đau hoặc phương pháp điều trị khác để giúp giảm đau hoặc giảm các triệu chứng khác. Một số phương pháp điều trị có thể được sử dụng để giảm kích thước của khối u và có thể giảm bớt các triệu chứng như đau.

4. Tiên lượng

Rất khó để đưa ra một tiên lượng chung. Mỗi trường hợp đều khác nhau. Ví dụ, nếu là một khối u màng não lành tính mà ở một vị trí thích hợp để phẫu thuật, tiên lượng là tốt.

Đối với các khối u não nguyên phát ác tính, tiên lượng sẽ thay đổi, tùy thuộc vào loại, phân độ và vị trí trong não.

Tiên lượng thường là xấu nếu là một khối u não ác tính thứ phát hay di căn não.

Điều trị ung thư là một lĩnh vực đang phát triển của nền y học. Các phương pháp điều trị mới tiếp tục được phát triển và những thông tin trên chỉ là những kiến thức cơ sở.

Tài liệu tham khảo

http://yhoccongdong.com/. Lâm Xuân Nhã, Trương Quang Huy. U não.

http://www.patient.co.uk/health/cancer-of-the-brain-and-brain-tumours http://www.neurochirurgia-ire.it/eng/5-8_Meningioma.shtml http://radiopaedia.org/articles/medulloblastoma http://radiologysigns.wordpress.com/tag/mri/ http://www.waltr.net/oncology/html/cns/pituitary.html

  

CHIA SẺ BÀI VIẾT

Bạn đang xem bài viết Tìm Hiểu Về Chữ “Sở” (所) Trong Tiếng Hán Cổ / 2023 trên website Tvzoneplus.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!