Top 21 # Khái Niệm Quản Trị Chiến Lược Của Tác Giả / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Tvzoneplus.com

Khái Niệm Về Chiến Lược Và Quản Trị Chiến Lược / 2023

Khái niệm Chiến lược

Thuật ngữ chiến lược có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp với hai từ “stratos” (quân đội, bầy, đoàn) và “agos” (lãnh đạo, điều khiển). Chiến lược được sử dụng đầu tiên trong quân sự để chỉ ra các kế hoạch lớn, dài hạn được đưa ra trên cơ sở tin chắc được cái gì đối phương có thể làm và cái gì đối phương không thể làm được.

Thông thường, chiến lược là khoa học và nghệ thuật chỉ huy quân sự được ứng dụng để lập kế hoạch tổng thể và tiến hành những chiến dịch có quy mô lớn. Theo nghĩa đó, trong kinh doanh, chiến lược kinh doanh là một bản phác thảo tương lai bao gồm các mục tiêu mà doanh nghiệp phải đạt được cũng như các phương tiện cần thiết để thực hiện các mục tiêu đó.

Có ý kiến cho rằng chiến lược kinh doanh là tập hợp các quyết định và hành động quản trị tác động đến sự thành công dài hạn của doanh nghiệp. Theo quan niệm truyền thống, chiến lược phác thảo các mục tiêu và giải pháp dài hạn đồng thời xây dựng chương trình phân bổ các nguồn lực cần thiết để đạt được mục tiêu. Theo quan niệm hiện đại có cả chiến lược dài hạn và chiến lược ngắn hạn.

Khác với các quan niệm trên, Mintzberg (giáo sư trường đại học McGill Univer, Canada, một trong những chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực quản lý) tiếp cận chiến lược theo cách mới. Ông cho rằng chiến lược là một mẫu hình trong dòng chảy các quyết định và chương trình hành động. Vì vậy, theo ông chiến lược có thể có nguồn gốc từ bất kỳ vị trí nào, nơi nào mà người ta có khả năng học hỏi và có nguồn lực trợ giúp cho nó.

Dù tiếp cận theo cách nào thì bản chất của chiến lược kinh doanh vẫn là phác thảo hình ảnh tương lai của doanh nghiệp. Chiến lược kinh doanh xác định các mục tiêu dài hạn, các chính sách cũng như các giải pháp cần thiết để thực hiện các mục tiêu đã định trước. Kế hoạch hoá chiến lược kinh doanh là quá trình lặp đi lặp lại công tác hoạch định và tổ chức thực hiện chiến lược kinh doanh đ[ hoạch định.

2. Khái niệm Quản trị chiến lược

Quản trị chiến lược doanh nghiệp là tổng hợp các hoạt động hoạch định, tổ chức thực hiện và kiểm tra, điều chỉnh chiến lược kinh doanh diễn ra lặp đi lặp lại theo hoặc không theo chu kì thời gian nhằm đảm bảo rằng doanh nghiệp luôn tận dụng được mọi cơ hội, thời cơ cũng như giảm thiểu hoặc loại bỏ các đe doạ, thách thức trên con đường thực hiện các mục tiêu của mình.

Quản trị chiến lược phải toát lên đặc trưng rất cơ bản là lấy hoạch định chiến lược làm hạt nhân của toàn bộ hoạt động quản trị doanh nghiệp. Hơn nữa, quản trị chiến lược còn bao hàm cả nghĩa tổ chức thực hiện mọi hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp một cách toàn diện theo tầm nhìn chiến lược. Như vậy, nội hàm của khái niệm quản trị chiến lược bao gồm ba giai đoạn: (i) Hoạch định chiến lược; (ii) Tổ chức thực hiện chiến lược; và (iii) Kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh chiến lược

3. Vai trò của quản trị chiến lược

Trong bất cứ loại hình doanh nghiệp nào, bất kể đó là: sản xuất nông nghiệp,công nghiệp, giao thông vận tải, kinh doanh thương mại hay dịch vụ, quản trị chiến lược đều giữ vai trò quan trọng và có tính định hướng hoạt động. Quản trị chiến lược giúp các doanh nghiệp đánh giá rõ môi trường hoạt động bên ngoài, xác định những điểm yếu, điểm mạnh trong nội tại doanh nghiệp từ đó đề ra các quyết sách nhằm tồn tại và chiến thắng trong cạnh tranh.

Khái niệm về chiến lược và quản trị chiến lược

Admin Mr.Luân

Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP. Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : luanvanaz@gmail.com ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

Khái Niệm Về Quản Trị Chiến Lược / 2023

Có rất nhiều định nghĩa và khái niệm về quản trị chiến lược như sau:

Cho đến nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về quản trị chiến lược, tuy nhiên có thể tập hợp vào ba cách tiếp cận sau

* Cách tiếp cận về môi trường “Quản trị chiến lược là một quá trình nhằm liên kết khả năng bên trong của tổ chức với các cơ hội và đe doạ của môi trường bên ngoài”

Đặc điểm của cách tiếp cận này là làm cho công ty định hướng theo môi trường, khai thác cơ hội và né tránh rủi ro.

*Cách tiếp cận về mục tiêu và biện pháp:

“Quản trị chiến lược là một bộ phận những quyết định và những hành động quản trị ấn định thành tích dài hạn của một công ty”. Cách tiếp cận này cho phép các nhà quản trị xác định chính xác hơn các mục tiêu của tổ chức, đó là nền tảng của quản trị đồng thời cũng cho phép quản trị sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực của tổ chức.

* Cách tiếp cận các hành động: “Quản trị chiến lược là tiến hành sự xem xét môi trường hiện tại và tương lai, tạo ra những mục tiêu của tổ chức, ra quyết định, thực thi những quyết định, nhằm đạt mục tiêu trong môi trường hiện tại và tương lai”

Từ các cách tiếp cận trên có thể có khái niệm ” Quản trị chiến lược là quá trình nghiên cứu các môi trường hiện tại cũng như tương lai, hoạch định các mục tiêu của tổ chức; đề ra, thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các quyết định để đạt được các mục tiêu đó trong môi trường hiện tại cũng như tương lai nhằm tăng thế lực cho doanh nghiệp”.

Khái niệm về quản trị chiến lược

Admin Mr.Luân

Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP. Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : luanvanaz@gmail.com ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

Khái Niệm Quản Trị Chiến Lược Cho Tổ Chức Du Lịch Là Gì ? / 2023

Khái niệm về dịch vụ là gì ?

Dịch vụ là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa người cung cấp và khách hàng, cũng như nhờ các hoạt động của người cung cấp để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng (ISO 9004-2:1991E). Dịch vụ là kết quả của những hoạt động không thể hiện bằng những sản phẩm vật chất, nhưng bằng tính hữu ích của chúng và có giá trị kinh tế như thương mại, y tế, giáo dục, du lịch, …

Khái niệm về tổ chức du lịch là gì ?

Tổ chức du lịch được xem là một tổ chức trung gian, một doanh nghiệp thực hiện chức năng tổ chức tham quan du lịch để :

– Bán hay đại lý bán các dịch vụ du lịch cho các nhà cung cấp bao gồm : cơ sở lưu trú, ăn uống, vận chuyển, tham quan, vui chơi, giải trí, …

– Bán các dịch vụ do chính mình cung cấp : hướng dẫn, dịch vụ vận chuyển, … và các thông tin về chuyến lữ hành như khí hậu, đặc điểm dân cư, giá cả, mua sắm, …

Đặc điểm của sản phẩm dịch vụ là gì ?

Những sản phẩm của du lịch có một số đặc điểm chung cho tất cả các sản phẩm về dịch vụ, có một số là riêng đối với sản phẩm của du lịch. Xét về bản chất, dịch vụ khác hàng hóa ở các đặc tính sau :

Dịch vụ không thể cầm, nắm, nếm, tìm hiểu kích thước và cất giữ nó. Chúng vô hình, làm cho chúng khó khăn để mua nhưng dễ dàng để phân phối. Tính vô hình của dịch vụ gây nên khó khăn trong vấn đề quản lý, điều hành và tổ chức. Chính vì vậy, người quản lý phải tạo nên một hình thức hữu hình của sự cung cấp dịch vụ, để khách hàng tiềm năng có thể dễ dàng liên hệ tới. Một đoạn video ngắn giới thiệu điểm đến nghĩ dưỡng mà khách hàng có thể xem từ nhà thông qua hệ thống Internet hay một tờ rơi giới thiệu những đặc trưng nổi bật trong chuyến đi, sẽ giúp khắc phục tính vô hình của dịch vụ.

Điều này, cho thấy tại sao chúng ta phải đầu tư nhiều sáng tạo, chi phí khi thiết kế chúng. Bên cạnh những dịch vụ đơn lẻ, còn có những gói dịch vụ, một gói dịch vụ có thể được định nghĩa như một sự phối hợp, sắp xếp trước các dịch vụ để chào bán, bán nó với giá bao gồm, không ít hơn 2 trong 3 yếu tố sau : vận chuyển, tiện nghi, dịch vụ du lịch khác không phụ thuộc đến vận chuyển hay tiện nghi, và được tính là một phần quan trọng của gói dịch vụ.

Quá trình sản xuất và tiêu dùng sản phẩm dịch vụ là không thể chia cắt, không thể tách rời nhau và phải tiến hành đồng thời. Để sử dụng tiện nghi của một chuyến du lịch, bạn và phương tiện vận chuyển phải du hành cùng một lúc. Và khác với hàng hóa, khách hàng sẽ có kinh nghiệm trực tiếp về sản phẩm của dịch vụ. Điều này có ảnh hưởng quan trọng đến sự kết nối các bộ phận trong công nghiệp dịch vụ này để làm hài lòng khách hàng. Trong công nghiệp dịch vụ, mọi thứ phải đúng lúc, ở mọi thời gian và bất cứ lỗi lầm ở bất kỳ khâu nào trong chuỗi cung cấp dịch vụ sẽ phải trả giá đắt, nghĩa là làm mất đi khách hàng tương lai tiềm năng.

Sản phẩm dịch vụ dễ hỏng vì được sản xuất và tiêu thụ đồng thời. Nếu không được bán ra, chúng không thể tiếp tục sản xuất, lưu trữ và bán trong tương lai. Một ghế xe lửa trống, một ghế máy bay trống, một phòng ngủ khách sạn trống, một tour du lịch Thái Lan không khách hàng, một tour du lịch Singapore Malaysia không khách hàng, một tour du lịch Campuchia không khách hàng, một tour du lịch Bali không khách hàng, một công ty du lịch không có khách hàng, … đồng nghĩa với sản phẩm dịch vụ đó không bán được, và mất cơ hội bán hàng mà không bao giờ thu lại được.

Tính dễ hỏng của sản phẩm dịch vụ gây nên một số khó khăn trong quản lý là khó đánh giá cân bằng giữa cung và cầu, vì nhu cầu thì thay đổi bởi nhiều yếu tố như con người, mùa vụ, kinh tế, xã hội, … khi thì nhu cầu tăng rất cao, nhưng cũng có lúc xuống rất thấp, còn cung cấp thì cố định và khó thay đổi trong ngắn hạn. Ví dụ, lượng phòng khách sạn không thể đột biến tăng nhanh, để đáp ứng nhu cầu của du khách đến trong một dịp lễ hội hay một dịp kỳ nghĩ mùa hè.

Từ đó, một thách thức đối với nhà quản trị là làm sao tổ chức đảm bảo hoạt động ở toàn bộ năng lực, ở thời gian nhiều nhất có thể. Nghĩa là, tổ chức cần thiết kế chiến lược thật cẩn thận theo hướng dự đoán thời gian dài nhất của mùa du lịch, ví dụ như mùa du lịch Thái Lan, mùa du lịch Singapore Malaysia, mùa du lịch Campuchia, mùa du lịch Bali Indonesia, … hoặc cung cấp các mức giá phù hợp để đáp ứng được tối đa nhu cầu của khách hàng với thời gian nhiều nhất.

Sản phẩm dịch vụ không giống sản phẩm hàng hóa hữu hình được sản xuất hàng loạt từ nhà máy. Ví dụ, cùng đi du lịch trên một chuyến tàu lửa, 2 khách hàng sẽ có 2 ý kiến không bao giờ giống nhau về chuyến đi ấy. Điều này, có nghĩa là sản phẩm dịch vụ là định hướng con người, các yếu tố con người đóng vai trò quan trọng chủ yếu. Vì vậy, các yếu tố con người và các yếu tố khác nhau trong chuỗi cung ứng dịch vụ sẽ không bao giờ là đồng nhất với nhau. Tính không đồng nhất, tạo nên một số khó khăn trong quá trình cung cấp dịch vụ vì :

– Hành vi của mỗi người là khác nhau, nên sản phẩm cung cấp cho mỗi con người cũng sẽ có một số cảm nhận khác biệt bởi khách hàng.

– Tổ chức khó đảm bảo rằng nhân viên của mình sẽ luôn có những biểu hiện tốt trong khả năng và quá trình giao tiếp, quan hệ với khách hàng ở mọi thời điểm. Hơn thế nữa, tổ chức không thể có tác động ảnh hưởng đến khách hàng trong quá trình họ đang tiêu thụ sản phẩm dịch vụ đó. Để giải quyết khó khăn này, điều quan trọng là : tổ chức phải cung cấp nhiều nhất thông tin về sản phẩm dịch vụ cho khách hàng, vì với lượng thông tin của sản phẩm dịch vụ đầy đủ hơn, khách hàng sẽ có cơ sở để cảm nhận, đánh giá sản phẩm dịch vụ chính xác hơn. Người trực tiếp quan hệ với khách hàng phải đảm bảo có đủ trình độ, khả năng và quyền hạn để giao tiếp và thỏa thuận với số đông khách hàng.

Bên cạnh việc tạo ra khó khăn cho tổ chức thì tính không đồng nhất cũng tạo ra một cơ hội cho tổ chức du lịch. Với tính không đồng nhất, khách hàng sẽ thực sự bị thu hút bởi việc sử dụng sản phẩm dịch vụ có sự khác biệt đó. Họ sẽ rất buồn và không tham gia mua sắm sản phẩm dịch vụ của tổ chức, nếu các điểm đến du lịch hay các chuyến lữ hành đều giống hệt nhau. Vì vậy, tạo ra sự khác biệt của từng khách sạn trong chuỗi khách sạn của tổ chức nhưng vẫn đảm bảo theo đúng hình ảnh thương hiệu của khách sạn, là điều mà nhà quản trị phải lưu ý trong việc xây dựng và lựa chọn chiến lược kinh doanh. Các tập đoàn khách sạn lớn như Marriot, Hyatt, Accor, … đã làm được điều này.

Khi khách hàng mua một món hàng, họ luôn có một tài liệu minh chứng về quyền sở hữu của họ đối với hàng hóa đó, ví dụ như hóa đơn mua hàng, quyền sở hữu được dịch chuyển từ người bán hàng sang người mua hàng, nhưng khi khách hàng mua một dịch vụ thì họ sẽ không nhận được bất kỳ một chuyển nhượng tài sản nào. Ví dụ, thuê một phòng khách sạn trong vài ngày, khách hàng chỉ có quyền sử dụng phòng đó trong số ngày mà họ đã thuê. Bởi vậy, trong dịch vụ, chỉ có việc chuyển quyền sử dụng từ người cung cấp dịch vụ sang người tiêu thụ dịch vụ, chứ không có việc chuyển quyền sở hữu.

Các yếu tố cụ thể của du lịch là gì ?

Riêng trong ngành công nghiệp du lịch, một số yếu tố cụ thể có thể được bổ sung là : chi phí cao, thời vụ, rào cản vào ra, sự phụ thuộc lẫn nhau, tác động đối với xã hội, tác động bởi cú sốc bên ngoài. Những yếu tố này, tuy không phải là duy nhất đối với ngành du lịch, nhưng nó làm nên sự khác biệt giữa sản phẩm dịch vụ du lịch, với sản phẩm của những ngành công nghiệp khác, và nó có ảnh hưởng quan trọng cho việc quản trị chiến lược du lịch.

Chi phí cho du lịch thường là cao đối với người tiêu dùng, khác với dịch vụ hàng hóa, khi mua một tour du lịch hay mua một vé máy bay quốc tế hay vé máy bay nội địa, người tiêu dùng thường có những cân nhắc nhất định, và thực tế, đó là khoản tiêu dùng khá lớn trong một năm. Do đó, khi mua dịch vụ này, họ thường so sánh với những dịch vụ thay thế. Đặc điểm này là quan trọng khi xây dựng chiến lược, và phải được đặc biệt chú ý trong hoạt động marketing quảng bá dịch vụ.

Tính thời vụ du lịch là những biến động lặp đi lặp lại hàng năm của cung và cầu dịch vụ du lịch. Nó chịu tác động của một số nhân tố nhất định như khí hậu, phân bổ thời gian sử dụng ngày nghỉ phép trong năm. Do nhu cầu du lịch là không giống nhau giữa các tháng trong năm, nên tạo ra các thời kỳ có lượng cầu khác nhau :

– Mùa du lịch chính : lượng khách du lịch là lớn nhất.

– Trước và sau mùa du lịch chính : lượng khách hàng ít hơn, nhưng vẫn cao hơn trung bình trong năm.

– Trái mùa du lịch : lượng khách du lịch là ít nhất.

Độ dài và cường độ du lịch của thời vụ du lịch là không như nhau, đối với các loại hình khác nhau. Vì vậy, một trong những cách quản trị có thể đáp ứng vấn đề này là phát triển những sản phẩm dịch vụ đa dạng của tổ chức, có được hoặc mua lại trước một số dịch vụ những tổ chức khác vào các thời điểm khác nhau trong năm.

Ở một số lĩnh vực của du lịch, việc thiếp lập công việc kinh doanh hoặc rời bỏ kinh doanh là khá dễ dàng, nghĩa là rào cản gia nhập hay rời bỏ ngành là thấp. Hầu hết các dịch vụ lữ hành bao gồm kỳ nghĩ đều được ký kết hợp đồng hoặc được bán cho khách hàng khi được yêu cầu. Trong các chi phí, phần lớn và chi phí in ấn, phát hành tờ rơi và hoạt động marketing quảng bá dịch vụ đến các đại lý, khách hàng. Lúc này, đơn vị lữ hành chưa phải mua dịch vụ từ các nhà điều hành tour cho đến khi khách hàng trả tiền mua dịch vụ. Như vậy, không xãy ra rủi ro của việc không bán được hoặc không lưu giữ hàng tồn kho. Vì vậy, một số tổ chức có thể được xem là thành công trong một phân khúc thị trường riêng biệt, và không khó khăn gì cho một đối thủ cạnh tranh khi học cung cấp một sản phẩm dịch vụ tương tự.

Công nghiệp du lịch có thể bao gồm 5 thành phần : chỗ ở, điểm tham quan, vận chuyển, tổ chức lữ hành, tổ chức điểm đến. Mỗi thành phần trong 5 thành phần trên có thể chia thêm thành những thành phần phụ. Một số trong số đó như tổ chức lữ hành, nhà điều hành tour, … loại hoạt động theo lợi nhuận. Trong khi một số khác ở tổ chức điểm đến như bảo tàng, vườn quốc gia, … thường được điều hành hoạt động theo hướng phi thương mại. Điều quan trọng là du hoạt động theo hướng nào, các thành phần trên đều có liên kết với nhau, dựa vào nhau, nghĩa là chúng phụ thuộc lẫn nhau. Nếu một thành tố thất bại trong cung cấp dịch vụ nó sẽ tác động xấu đến các thành tố khác.

Poon đã xác định 5 lực lượng quan trọng : người tiêu dùng, công nghệ, sản phẩm dịch vụ, quản trị và các điều kiện khung. Người tiêu dùng ngày nay rất nhạy cảm với tác động của những gì họ tiêu thụ, họ ngày càng hiểu biết, có kinh nghiệm nhiều hơn và càng khó tính hơn trong tiêu dùng. Vì vậy, nhà quản trị cần có những nghiên cứu và cố gắng tìm hiểu sự thay đổi này để tạo ra năng lực cạnh tranh cao hơn của tổ chức bằng cách thiết kế những sản phẩm dịch vụ đáp ứng thị hiếu, ngày càng gia tăng của khách hàng. Tiếp đến, các hoạt động marketing, quảng bá, phân phối, và định giá được thiết kế và thực thi thích hợp.

Công nghiệp du lịch dễ bị tác động bởi những cú sốc từ bên ngoài, ngoài tầm kiểm soát của nhà quản trị như chiến tranh, bão lụt, khủng bố, ô nhiễm, … Những tác động này ảnh hưởng rất nhanh đến du lịch. Một nhà điều hành tour du lịch đến duy nhất một quốc gia sẽ dễ bị tổn thương nếu quốc gia này có những sự kiện xãy ra ngoài ý muốn. Cách tốt nhất là tổ chức điều hành tour ở nhiều điểm đến khác nhau sẽ làm giảm rủi ro và thiệt hại sẽ được giảm rất nhiều.

Quản trị chiến lược cho tổ chức du lịch là gì ?

*** Bạn có thể cần xem lại hai bài viết này :

Một định nghĩa được sử dụng rộng rãi vì nó chỉ ra những điều tốt nhất mà chiến lược có được “Chiến lược là sự xác định các mục tiêu và mục đích dài hạn của doanh nghiệp, và sự chấp nhận chuỗi các hành động cũng như phân bổ nguồn lực cần thiết để thực hiện các mục tiêu này”. Quản trị chiến lược là một bộ các quyết định quản trị, và các hành động xác định hiệu suất dài hạn của một công ty. Quản trị chiến lược bao gồm các hành động liên tục như phân tích môi trường cả bên trong lẫn bên ngoài, xây dựng chiến lược, thực thi chiến lược và đánh giá, kiểm soát chiến lược.

Dịch vụ là một trong hai sản phẩm cơ bản, nó là vô hình và kết quả của hoạt động tương tác giữa người cung cấp và khách hàng. Dịch vụ có các đặc điểm là vô hình, không thể chia cắt, dễ hỏng, không đồng nhất và không thể sở hữu. Công nghiệp dịch vụ có những yếu tố cần thiết để quản trị là chi phí cao, mang tính thời vụ, phụ thuộc lẫn nhau, rào cản vào ra phụ thuộc vào quy mô đầu tư và có tác động đến xã hội cũng như môi trường.

TS Hà Nam Khánh Giao THS Lê Thái Sơnhttps://tampacifictravel.com

khái niệm chiến lược

ví dụ về quản trị chiến lược

mô hình quản trị chiến lược

quản trị chiến lược chương 2

vai trò của quản trị chiến lược

bản chất của quản trị chiến lược

slide bài giảng quản trị chiến lược

giáo trình quản trị chiến lược neu

ngành du lịch là gì

khách du lịch là gì

kinh tế du lịch là gì

các loại hình du lịch

hệ thống du lịch là gì

trung tâm du lịch là gì

du lịch là gì theo luật du lịch

lịch sử hình thành và phát triển của du lịch thế giới

bài tập marketing du lịch

ý tưởng marketing du lịch

ví dụ về marketing du lịch

quản trị marketing du lịch là gì

xu hướng về marketing du lịch

marketing du lịch là làm những việc gì

chiến lược marketing du lịch đến năm

chiến lược marketing cho sản phẩm du lịch mới

Link topic https://tampacifictravel.com/khai-niem-quan-tri-chien-luoc-cho-to-chuc-du-lich-la-gi.html

Khái Niệm Quản Trị Tác Nghiệp / 2023

Kết quả

Khái niệm quản trị tác nghiệp:

Doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm cung cấp sản phẩm/dịch vụ thỏa mãn nhu cầu thị trường và thu được lợi nhuận. Doanh nghiệp là một hệ thống mở với môi trường bên ngoài và doanh nghiệp cũng lại được cấu thành bởi nhiều bộ phận với những chức năng riêng biệt. Muốn đạt được các mục tiêu của mình đòi hỏi các doanh nghiệp phải tổ chức tốt các bộ phận cấu thành như sản xuất, marketing, tài chính, nhân lực. Theo tiếp cận thế chân kiềng của doanh nghiệp thì sản xuất cùng với marketing và tài chính được xác định là 3 trục cơ bản. Sản xuất là một phân hệ chính có vai trò quyết định trong việc tạo ra sản phẩm/dịch vụ cho doanh nghiệp. Quản trị hệ thống sản xuất là chức năng, nhiệm vụ cơ bản của mọi doanh nghiệp. Thiết lập, phát triển và tổ chức điều hành tốt hoạt động sản xuất là cơ sở và yêu cầu bảo đảm cho mỗi doanh nghiệp có thể đứng vưng và phát triển trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt.

Sản xuất hoặc tác nghiep bao gồm các hoạt động mua, dữ trữ, biến đổi đầu vào thành đầu ra cũng như các hoạt động bảo dưỡng; bảo trì máy móc thiết bị của hệ thống sản xuất. Trong đó, hoạt động chế biến là hoạt động cốt lõi của mọi hệ thống sản xuất. Thực chất quá trình chế biến là quá trình biến đổi các yếu tố đầu vào thành các yếu tố đầu ra.

Quản trị sản xuât/tác nghiep là quá trình hoạch định, tổ chức, điều hành và kiểm tra, kiếm soat hệ thống sản xuất nhằm thực hiện những mục tiêu sản xuât đề ra.

Dưới nhãn quan hệ thống, sản xuất bao gồm nhiều yếu tố cấu thành, có mối quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau. Toàn bộ phân hệ sản xuât được thể hiện qua hình 1.1

Các yếu tố đầu vào rất đa dạng bao gồm nguồn tài nguyên thiên nhiên, con người, công nghệ, thông tin khách hàng,… Chúng là những nguồn lực cần thiết cho bất kỳ quá trình sản xuât nào. Muốn quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiep có hiệu quả đòi hỏi phải khai thác và sử dụng các yếu tố đầu vào một cách hợp lý, tiết kiệm nhất.

Đầu ra thường bao gồm hai loại là sản phẩm và dịch vụ. Đối với các hoạt động cung cấp dịch vụ, đầu ra được thể hiện dưới nhiều dangkhó nhận biết một cách cụ thể như của hoạt động sản xuất.Ngoài những sản phẩm hoặc dịch vụ được tạo ra sau mỗi quá trình sản xuất/cung ứng dịch vụ còn có một số phụ phẩm khác có ích hoặc không có ích cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đôi khi đòi hỏi phải có chi phí lớn cho việc xử lý, giải phóng chúng, nhất là trong yêu cầu phát triển bền vững ngày nay, chẳng hạn phế phẩm, chất thải các loại…

Thông tin ngược lại là một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống sản xuất của doanh nghiep. Những thông tin này cho biết tình hình thực tế diễn ra như thế nào? Từ đó sẽ giúp nhà quản trị có những điều chỉnh hợp lý trong quản trị.

Các đột biến ngẫu nhiên ảnh hưởng đến hoạt động của toàn bộ hệ thống sản xuất, đôi khi làm cho sản xuất không thực hiện được mục tiêu như mong muốn. Chẳng hạn như thiên tai, lũ lụt, chiến tranh, hỏa hoạn, sự thanh đổi về chính sách, thị hiếu của khách hàng thay đổi…

Nhiệm vụ của quản trị sản xuất/tác nghiệp là thiết kế và tổ chức hệ thống sản xuất nhằm biến đổi đầu vào thành đầu ra sau mỗi quá trình biến đổi, nhưng với một lượng lớn hơn đầu tư ban đầu. Đó chính là phải tạo ra giá trị gia tăng cho doanh ngiệp. Giá trị gia tăng là yếu tố quan trọng tạo ra động cơ phấn đấu của mỗi doanh nghiệp. Với xã hỗi tạo ra ngày cang nhiều giá trị gia tăng sẽ góp phần tăng thu nhập quốc dân, tăng tích lũy của cải cho một xã hội ngày càng giàu có và phat triển.

Giáo trình Quản trị tác nghiệp TS.Trương Đức Lực – THS. Nguyễn Đình Trung( Đồng chủ biên) Quantri.vn biên tập