Top 5 # Khái Niệm Văn Hóa Kinh Doanh Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 5/2023 # Top Trend | Tvzoneplus.com

Văn Hóa Kinh Doanh: 11. Khái Niệm Và Bản Chất Của Văn Hóa

1. Khái niệm văn hóa

Muốn nghiên cứu vai trò của văn hóa đối với phát triển, trước tiên phải có một khái niệm chính xác và nhất quán về văn hóa cũng như cấu trúc của nó. Trên thực tế, cũng đã có rất nhiều người cố gắng định nghĩa văn hóa. Nhưng cho đến nay vẫn chưa có được một sự nhất trí và cũng chưa có định nghĩa nào thoả mãn được cả về định tính và định lượng. Điều đó, theo tôi, có những nguyên nhân sau đây:

Trước hết, trong số những người nghiên cứu văn hóa, hoặc, như người ta thường gọi, những nhà văn hóa, ngoài những định kiến và những hạn chế có tính chất lịch sử, rất nhiều người bị mắc những bệnh nghề nghiệp. Họ thường qui văn hóa vào những lĩnh vực hạn hẹp cụ thể, thường bói văn hóa, cũng như bói cuộc sống nói chung, theo kiểu thầy bói xem voi, bằng cách xem xét những bộ phận cá biệt của nó chứ chưa có một cách tiếp cận tổng thể.

Thứ hai, văn hóa là một lĩnh vực rộng lớn, rất phong phú và phức tạp, do đó khái niệm văn hóa cũng đa nghĩa. Khi đề cập đến nó mỗi người có một cách hiểu riêng tùy thuộc vào góc độ tiếp cận của họ là điều dễ hiểu.

Thứ ba, giống như tất cả các ngành khoa học xã hội khác, ngành văn hóa học có lịch sử phát sinh và phát triển lâu dài trong lịch sử loài người. Trong quá trình lịch sử đó nội dung của khái niệm văn hóa cũng thay đổi theo.

Tôi cho rằng văn hóa, nói một cách giản dị, là những gì còn lại sau những chu trình lịch sử khác nhau, qua đó người ta có thể phân biệt được các dân tộc với nhau. Thông qua mỗi một chu kỳ của sự phát triển, dân tộc đó tương tác với mình và với những dân tộc khác, cái còn lại được gọi là bản sắc, hay còn gọi là văn hóa.

Ở đây, tôi gần gũi với cựu Tổng Giám đốc UNESCO Federico Mayor khi ông đưa ra một định nghĩa: “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sông động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khử cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành một hệ thông các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng địinh bản sắc riêng của mình”.

Văn hóa là một hiện tượng khách quan, là tổng hoà của tất cả các khía cạnh của đời sống. Ngay cả những khía cạnh nhỏ nhặt nhất của cuộc sống cũng mang những dấu hiệu văn hóa. Rất nhiều thứ mới thoạt nhìn thì giống nhau, nhưng nếu xem xét kỹ thì lại có những điểm riêng biệt. Trong thực tế, không có sự giống nhau tuyệt đối.

Gần đây, có ý kiến cho rằng trên thế giới đang diễn ra hiện tượng xâm lược về văn hóa như là sự tiếp tục của những cuộc xâm lược bằng súng đạn và kinh tế. Tôi không đồng ý như vậy. Bởi văn hóa là hoà bình, văn hóa là không xâm lược. Cảm giác bị xâm lược, nếu có, chẳng qua là cái cảm giác và sĩ diện của kẻ yếu. Chúng ta đang sống trong một thế giới duy nhất và cũng có thể nói là thống nhất. Chúng ta phải bắt đầu từ mô hình kinh tế mà Alvin Tofler từng mô tả bằng hình ảnh “con tàu vũ trụ”. Trái đất là một kho chứa hữu hạn các nguồn năng lượng sống và toàn cầu hóa là một quá trình để tiết kiệm nguồn năng lượng ấy bằng cách đảm bảo không sản xuất thừa, không sử đụng nguyên liệu một cách bừa bãi trên phạm vi toàn cầu. Nhưng cùng với quá trình hội nhập về mặt kinh tế còn có một quá trình khác luôn luôn tồn tại bên cạnh, và thậm chí đã đi trước, đó là sự hội nhập về mặt văn hóa. Sự hội nhập về mặt văn hóa chính là quá trình con người đi tìm ngôn ngữ chung cho một cuộc sống chung. Quan niệm về sự xâm lược văn hóa là quan niệm của những cộng đồng người chỉ có kinh nghiệm hình thành trong quan hệ phát triển lưỡng cực, những kinh nghiệm chiến tranh, nhất là chiến tranh lạnh. Văn hóa không phải là ý thức của tôi, của anh hay của bất kỳ ai, mà thuộc về con người một cách tự nhiên. Con người khi sống chung với nhau sẽ gây ảnh hưởng lẫn nhau. Đến phương Tây ta sẽ nhìn thấy rằng trong ngôi nhà nào của người Mỹ, người Anh, người Pháp…cũng có một vài vật dụng gì đó, một vài thứ souvenirs gì đó từ phương Đông. Đôi khi trong xã hội phương Tây người ta có xu hướng xem sự hiện hữu của một vài kỷ vật, một vài đồ trang trí từ phương Đông như là dấu hiệu của tầng lớp thượng lưu hoặc văn minh. Đó là sự đan xen lẫn nhau của cuộc sống, đấy là sự chung sống hoà bình của quá khứ, và đấy cũng chính là cơ sở văn hóa của sự chung sống hoà bình trong tương lai.

2. Văn hóa và văn minh

Hai khái niệm rất hay bị đồng nhất này tuy rất gần gũi nhưng thực ra không phải là một và chỉ có thể coi như đồng nghĩa trong một vài trường hợp cụ thể, chẳng hạn khi người ta đối lập văn minh với bạo tàn.

Thông thường, văn minh được dùng để chỉ trình độ phát triển về vật chất và tinh thần của nhân loại đến một thời kỳ lịch sử nào đó. Một số nhà nghiên cứu, chẳng hạn Alvin Tomer, sử dụng chúng để phân chia lịch sử thành văn minh tiền nông nghiệp, văn minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp và văn minh hậu công nghiệp. Có quan điểm lại cho rằng văn minh là một khái niệm rộng hơn văn hóa, rằng văn minh là sự tổng hoà của văn hóa và xã hội, là sự thể hiện được những hình thức thực tiễn cụ thể của văn hóa trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống như lao động sản xuất, lối sống, hành vi ứng xử…

Trong thực tế, chúng ta thấy có những tộc người chưa có văn minh vẫn có văn hóa của mình. Đôi khi trên sách báo, chúng ta gặp những nhận xét, đánh giá độ cao thấp của các nền văn minh, trong khi đó lại có những người cho rằng các nền văn hóa thực ra là như nhau, rằng việc chúng ta đánh giá cái này cao hơn, cái kia mạnh hơn là do cách nhìn của chúng ta, còn các nền văn minh, những nền văn hóa ở Aztec chẳng hạn, từ cách đây mấy nghìn năm cũng không kém gì nền văn minh ở phương Tây hiện nay…

Tôi nghĩ rằng, tất cả những nhà nghiên cứu về văn hóa đang lấy cái mẫu của thời xưa, khi chỉ cần sự ngăn cách về địa lý là đủ để ngăn cách các cộng đồng người. Nhân loại hiện đại, bằng các phương tiện của mình, không còn bị giam hãm bởi các khái niệm khu trú như vậy. Nếu như các nhà nghiên cứu văn hóa của thế kỷ XXII mà vẫn lấy hình mẫu của thế kỷ XX để noi theo thì chắc chắn cũng vẫn đi đến những kết luận khác với những kết luận của những nhà nghiên cứu văn hóa của thế kỷ XX.

Chúng ta phải phân biệt nghiên cứu về văn hóa như một quá trình vận động, như một yếu tố xã hội, với nghiên cứu lịch sử văn hóa, nghĩa là xem xét nó như một phiên bản tĩnh. Chúng ta cũng không nên phê phán những người lấy sự phát hiện và phân biệt những khía cạnh khác nhau của các nền văn minh làm mục đích nghiên cứu. Bởi vì họ nghiên cứu lịch sử văn hóa chứ không phải nghiên cứu văn hóa. Văn hóa đang và sẽ còn bớt đần sự cát cứ, còn nghiên cứu lịch sử văn hóa thì không bao giờ có sự cát cứ như vậy. Nói như vậy không có nghĩa là không có sự khác nhau về ảnh hưởng. Một cộng đồng lớn sẽ có khả năng tạo ra một vùng ảnh hưởng lớn hơn, đa dạng hơn, bởi càng đông thì tính đa dạng càng lớn. Tính đa dạng về mặt tính cách của con người sẽ tạo ra tính đa dạng về mặt đời sống văn hóa. Sự lan toả của một cộng đồng lớn sẽ mạnh hơn.

Tuy vậy, khi nghiên cứu văn hóa không nên đặt mục tiêu là xác định nó lớn hay bé, mà nên xem nó có độc đáo hay không, có lạ lẫm hay không, có những sáng tạo gì, có đóng góp gì và đặc biệt là nó có đóng góp gì cho văn hóa chung của nhân loại. Tôi nghĩ rằng nghiên cứu như thế mới giúp ta tìm ra được giá trị thật của văn hóa.

Văn Hóa Kinh Doanh, Văn Hóa Doanh Nghiệp Và Văn Hóa Doanh Nhân

Văn hóa có bản sắc riêng lại có sự giao thoa, tiếp biến; nó kết tinh từ trong hoạt động của con người theo dòng chảy của lịch sử, đồng thời bổ sung những giá trị mới từ cuộc sống hiện tại.

1. Có rất nhiều định nghĩa về văn hóa.

Năm 1967, Abraham Molo, nhà nghiên cứu người Pháp đã thống kê được 250 định nghĩa. Giáo Sư Phan Ngọc cho biết: Một nhà Dân tộc học Mỹ đã dẫn ra ngót 400 định nghĩa về Văn hóa.

Có người đã phải thốt lên: “Văn hóa chính là cái tên mà chúng ta đặt cho điều bí ẩn không cùng với những ai ngày nay đang tìm cách suy nghĩ về nó”.

Sở dĩ như vậy là vì văn hóa là một phạm trù rất rộng, cả vật chất lẫn tinh thần, cả tri thức, tín ngưỡng, đạo đức, pháp luật, thẩm mỹ, truyền thống và lối sống. Văn hóa có bản sắc riêng lại có sự giao thoa, tiếp biến; nó kết tinh từ trong hoạt động của con người theo dòng chảy của lịch sử, đồng thời bổ sung những giá trị mới từ cuộc sống hiện tại.

Hệ thống cầu vượt giao thông đô thị xây mới trung tâm TP. Hà Nội. Ảnh: tạp chí kiến trúc Việt Nam.

Có thể trích ra đây hai định nghĩa, mà theo tôi, phản ánh tương đối đầy đủ khái niệm Văn hóa:

– Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm, quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng”. (Định nghĩa của UNESCO đưa ra năm 1982 tại Mexico).

– Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặt của cuộc sống của mỗi cá nhân và cộng đồng đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, cấu thành nên một hệ các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó, từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình (Cựu Tổng giám đốc UNESCO Frederico Mayor).

Đặc trưng của Văn hóa là sự đa dạng, giá trị của Văn hóa là sự khác biệt. Trong văn hóa, chỉ có hợp tác và giao lưu; phát huy và quảng bá bản sắc văn hóa độc đáo của đất nước mình, dân tộc mình, đồng thời tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại. Vì vậy, theo suy nghĩ của tôi, khái niệm “hội nhập” về văn hóa là không chuẩn xác.

Văn hóa tuy không phải là tất cả nhưng lại có mặt trong tất cả, nó thấm đậm trong quá trình phát triển, trong mọi hoạt động, mọi hành vi, ứng xử của con người.

Di sản văn hóa có di sản vật thể và di sản phi vật thể. Di sản, nhất là di sản phi vật thể có cái cái tốt, tích cực, cũng có cái không tốt, tiêu cực. Người có tư duy lành mạnh, hành động đúng đắn là biết phát huy và tạo ra những di sản tốt đẹp, khắc phục và loại bỏ những di sản xấu.

2. Văn hóa đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển nói chung và kinh tế nói riêng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Văn hóa soi đường cho Quốc dân đi”. Cương lĩnh chính trị được Đại Hội Đảng lần thứ XI thông qua khẳng định: “Văn hóa là “nền tảng tinh thần vững chắc, là sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”

“Văn hóa còn thì dân tộc còn”. Và, dân tộc nào bị thống trị về văn hóa ngoại bang thì dân tộc đó không thể có độc lập thật sự. (Nước ta bị phong kiến phương Bắc đô hộ hàng nghìn năm; các dân tộc ở phía Nam sông Dương Tử đều bị “Hán hóa” nhưng dân tộc ta không bị “Hán hóa” là do sức sống mãnh liệt của văn hóa người Việt).

“Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình mới, những công trình vượt trội lên bản thân ” (Tuyên bố của UNESCO về những chính sách văn hóa)

Trong mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa, văn hóa không phải là cái thứ hai, “không phải là cái ăn theo, không phải là sự phản ánh thụ động sự phát triển của kinh tế”. Văn hóa là một nhân tố tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển kinh tế.

Trong thời đại của một nền văn minh mới, động lực của tăng trưởng kinh tế không chỉ ở vốn, càng không phải ở tài nguyên mà chủ yếu ở trí tuệ, tiềm năng sáng tạo, ở bản lĩnh, khả năng giao tiếp, kết nối và tương tác với người khác của mỗi cá nhân tức là ở nguồn lực con người, là ở trong văn hóa. Và, chúng ta khẳng định: văn hóa là động lực của phát triển.

3. Kinh doanh, không chỉ là hoạt động kinh tế mà bản chất là hoạt động văn hóa. Hoạt động đó đáp ứng nhu cầu của con người: Cả người sản xuất và người tiêu dùng, cả người mua lẫn người bán; nó mang đến cho con người sự thỏa mãn, sự tiện nghi. Đối với người sản xuất là sự sáng tạo, đối với người mua là đáp ứng nhu cầu để phục vụ cho cuộc sống và rốt cuộc cũng là để sáng tạo. Sự đáp ứng gắn chặt với cách đáp ứng. Nhiều khi cách đáp ứng còn quan trọng hơn sự đáp ứng “Của cho không bằng cách cho”. Và, do đó trong bản chất nó là hoạt động văn hóa.

Văn hóa doanh nghiệp có những chuẩn mực chung nhưng lại mang bản sắc riêng, nó tạo sự khác biệt giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác. Chính vì vậy, văn hóa doanh nghiệp là một trong nhiều yếu tố làm nên thương hiệu của doanh nghiệp.

Văn hóa doanh nhân là các giá trị văn hóa mà người chủ doanh nghiệp hướng đến trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình. Văn hóa doanh nhân đóng vai trò chủ đạo hình thành văn hóa doanh nghiệp.

Cách đây một thế kỷ, chí sỹ Lương Văn Can (1854-1927) đã nói về những điểm yếu của doanh nhân Việt Nam:

Người mình không có thương phẩm, không có thương hội.

Không có tín thực, chỉ xem ngạn ngữ ta rằng “thực thà cũng thể lái buôn” thời đủ biết đức tính của lái buôn vậy.

Không kiên tâm, không có nghị lực, không biết trọng nghề,

Kém đường giao thiệp.

Không biết tiết kiệm. Làm ít, tiêu nhiều; chỉ choáng bề ngoài mà xấu bề trong, tốt bộ vỏ mà không có ruột.

Khinh hóa, sính hàng ngoại.

Nhận xét của cụ Lương Văn Can về nghề buôn của nước ta cho đến nay đều xác đáng. (Lấy theo báo An Ninh Thủ Đô tháng 2/2008).

Tất nhiên, không phải mọi doanh nhân nước ta đều có tất cả những yếu kém ấy. Cùng với sự phát triển của đất nước, ngày nay, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã tiến bộ và trưởng thành lên nhiều nhưng những điều cụ Lương nói vẫn còn ở không ít các doanh nghiệp, doanh nhân nước ta. Đây là một di sản không tốt cần loại bỏ.

Trên tổng thể, khắc phục những yếu kém mà cụ Lương Văn Can chỉ ra là tạo nên một hệ giá trị cho văn hóa doanh nghiệp.

Tuy nhiên, thời đại thay đổi, quan niệm về hệ giá trị cũng có những phát triển mới, có những đặc trưng mới mặc dầu không có mâu thuẫn với những điều nhà chí sỹ Lương Văn Can đã đề cập.

Để làm việc này, trước hết, phải xác lập những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo việc xây dựng văn hóa kinh doanh. Đó là:

(1) Hai bên cùng thắng: Lấy sự hài lòng của khách làm cơ sở bảo đảm lợi ích của mình.

(2) Cạnh tranh lành mạnh và tăng cường hợp tác

(3) Phát triển bền vững

(4) Thượng tôn pháp luật, bảo đảm kỷ luật kỷ cương đi đôi với phát huy dân chủ và khả năng sáng tạo của mỗi thành viên; đặt yêu cầu cao cho mỗi thành viên, động viên họ đối đầu với thách thức. Có dám đối đầu với thách thức mới biết mình là thế nào và có thể làm được những gì?

(5) Đề cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Phải coi trách nhiệm xã hội là một nội dung của văn hóa doanh nghiệp, một yếu tố tạo ra thương hiệu.

Từ các nguyên tắc chỉ đạo này, phải phấn đấu theo các nội dung sau:

(i) Kinh doanh trung thực, giữ vững chữ tín, tạo niềm tin cho đối tác (đây là nội dung cực kỳ quan trọng).

(ii) Có tư duy chiến lược và tầm nhìn dài hạn để định hướng phát triển lâu dài, có khả năng phản ứng trước khi thị trường biến động- điều rất cần trong bối cảnh thế giới vận động rất nhanh và thay đổi không ngừng, cũng là để đào tạo người nối nghiệp theo định hướng đã lựa chọn. Đối với những công ty gia đình thì nên phát triển theo cách “cha truyền con nối”.

(iii) Không coi kinh doanh chỉ là một nghề để kiếm sống mà là một hoạt động sáng tạo, một phương án tự hoàn thiện mình với chữ Người (viết hoa) nên phải kiên trì, không “nhảy cóc”; dám chấp nhận sai lầm và biết giới hạn những sai lầm; chấp nhận lỗ trong một thương vụ cụ thể để giữ chữ tín với đối tác.

(iv) Coi tiết kiệm không chỉ là cách thức giảm chi phí, tăng lợi nhuận mà là một phong cách và văn hóa sống, giúp khách hàng được hưởng lợi tốt hơn. Qua đó mà mở rộng thị trường, phát triển khách hàng.

(v) Nâng cao ý thức về lòng tự hào đối với sản của doanh nghiệp mình, làm với tất cả tâm huyết, yêu nghề để có sản phẩm tốt nhất, hoàn thiện nhất có thể; bảo đảm chất lượng, giá cả hợp lý và dịch vụ hậu mãi vượt trội.

(vi) Coi trọng vai trò của hiệp hội, hợp tác chặt chẽ và đóng góp tích cực vào hoạt động của hiệp hội.

(vii) Tăng cường hợp tác và liên kết, tích cực tương tác với các đối tác trong và ngoài nước, hình thành mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Cần hiểu rằng, hợp tác và liên kết là yêu cầu tự thân của cuộc sống, của phát triển, là nhân sinh quan, là tiêu chuẩn quan trọng hàng đầu của con người hiện đai trong thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Tăng cường làm việc nhóm nhỏ.

(viii) Chú ý tổ chức các hoạt động ngoại khóa. (văn nghệ, thể dục thể thao, dã ngoại,..). Phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể trong doanh nghiệp (nội dung này cũng là giải pháp gắn kết các thành viên trong doanh nghiệp).

(ix) Xác định đúng nhưng ngắn gọn “Slogan”, của doanh nghiệp để mỗi người hướng theo mục tiêu này mà phấn đấu. Lưu ý “Slogan” không phải là vĩnh viễn, cũng phải thay đổi phù hợp với mục tiêu mới khi tình hình đòi hỏi. Có một thực tiễn là, với một “Slogan” sử dụng quá lâu, không được bổ sung và phát triển những ý tưởng mới khi tình hình thay đổi, nhiều thành viên trong doanh nghiệp không còn nhớ đến nó nữa.

(x) Xây dựng thương hiệu bằng cách tạo ra bản sắc riêng, sự độc đáo trong sản phẩm và dịch vụ của mình, cùng với việc mở rộng mạng lưới cung ứng và tiêu thụ.

Để xây dựng văn hóa doanh nghiệp cần nhớ:

– Thói quen hình thành tính cách, tính cách làm nên số phận. Thói quen có thói quen tốt và thói quen xấu. Tạo ra thói quen tốt không dễ, loại bỏ một thói quen xấu còn khó hơn. Vì vậy, phải tăng cường kỷ luật, kỷ cương, khen thưởng kịp thời, xử phạt nghiêm minh. Kỷ luật sẽ áp chế thói quen xấu, giúp cho cái tốt chiến thắng.

– Doanh nhân (chủ hoặc người đứng đầu doanh nghiệp) có ảnh hưởng quyết định đến xây dựng văn hóa doanh nghiệp. Vì vậy, Doanh nhân phải có ý thức xây dựng, đề cao văn hóa kinh doanh, văn hóa của doanh nghiệp mình

– Về bản chất, lãnh đạo và quản lý là hai hoạt động khác nhau. Ở ta thường đồng nhất hai hoạt động này. Cần cố gắng tách bạch đến mức có thể, nhất là trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp. Trong hoạt động này, người lãnh đạo đưa ra ý tưởng, truyền cảm hứng đến mọi người và cuốn hút họ đi theo và thực hiện ý tưởng và các nội dung đã xác định. Người quản lý tổ chức thực hiện ý tưởng đó: Lập quy trình thực hiện có hiệu quả, giám sát việc thực thi, đề ra các giải pháp phát huy kết quả, khắc phục những sai phạm, yếu kém, …

Trương Đình Tuyển/Sài Gòn giải phóng số Xuân

Một Vài Khái Niệm Về Văn Hóa Doanh Nghiệp

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa.

Trong từ điển, văn hóa được định nghĩa là “hành vi của những năng lực đạo đức và tư duy phát triển, đặc biệt thông qua giáo dục”.

Văn hóa cũng có một số định nghĩa khác như:

Theo UNESCO: “Văn hóa là một phức thể, tổng thể các đặc trưng, diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức, linh cảm… khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, quốc gia, xã hội… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương, mà cả những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng…

Theo chúng tôi Ngô Đình Giao: “Văn hóa là tập hợp những giá trị, những ý niệm, niềm tin truyền thống được truyền lại và cùng chia sẻ trong một quốc gia. Văn hóa cũng là cách sống, những nếp suy nghĩ truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Văn hóa có ý nghĩa khác nhau đối với các dân tộc khác nhau, bởi vì khái niệm văn hóa bao gồm những chuẩn mực, giá trị, tập quán v.v…”.

2. Văn hóa doanh nghiệp – giá trị cốt lõi của doanh nghiệp mạnh

Văn hóa doanh nghiệp – một khái niệm chưa từng có trong từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, đó là một lĩnh vực mới được nghiên cứu trong vài thập kỷ trở lại đây, nên các định nghĩa về văn hóa doanh nghiệp còn rất khác nhau. Thời gian gần đây, thuật ngữ “văn hóa doanh nghiệp” rất hay được sử dụng và phổ biến trong giới doanh nhân và các nhà quản lý. Các doanh nghiệp bắt đầu chú trọng đến việc xây dựng văn hóa cho mình. Tuy nhiên, “văn hóa doanh nghiệp” là một trong những “khái niệm” tương đối khó hiểu trong quản trị kinh doanh. Có nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa doanh nghiệp.

Văn hóa doanh nghiệp được hiểu là toàn bộ các giá trị văn hóa được gây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, trở thành các giá trị, các quan niệm, các niềm tin chủ đạo, các quy tắc, thói quen, các tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp ấy và chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên trong doanh nghiệp trong việc theo đuổi và thực hiện các mục đích; tóm lại: văn hóa doanh nghiệp là tất cả những gì làm cho doanh nghiệp này khác với một doanh nghiệp khác.

Theo chuyên gia người Pháp, khái niệm văn hóa doanh nghiệp trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa: :Văn hóa doanh nghiệp là tổng hợp các giá trị, các biểu tượng, huyền thoại, nghi thức, các điều cấm kỵ, các quan điểm triết học, đạo đức, tạo thành nền móng sâu xa của doanh nghiệp”.

“Văn hóa doanh nghiệp là sự trộng lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết”.

Những thành phần của văn hóa doanh nghiệp gồm 3 phần chính : tầm nhìn, sứ mệnh và giá trị cốt lõi. Biểu hiện của văn hóa doanh nghiệp thể hiện qua 2 yếu tố:

– Hữu hình: Đồng phục, khẩu hiệu, nghi thức, quy định, nhạc phim công ty, tập san nội bộ, các hoạt động,…

– Vô hình: Thái độ, phong cách, thói quen, nếp nghĩ của những con người trong tổ chức.

Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về văn hóa doanh nghiệp, nhưng nhìn chung, mọi khái niệm đều cho rằng văn hóa doanh nghiệp chính là toàn bộ các giá trị văn hóa được xây dựng trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp; tạo nên sự khác biệt giữa các doanh nghiệp và được coi là truyền thống riêng của mỗi doanh nghiệp. Văn hoá doanh nghiệp là một yêu cầu tất yếu của sự phát triển thương hiệu vì hình ảnh văn hóa doanh nghiệp sẽ góp phần quảng bá thương hiệu của doanh nghiệp.

THÔNG TIN LIÊN HỆ – Công ty TNHH ANCORIC – Văn phòng: Tầng 3 số 51 Cầu Lớn- Nam Hồng- Đông Anh- Hà Nội – Điện thoại: 024.668.44.446 / 0947.024.112 – Email: Info@Ancoric.com – Website: http://Ancoric.com

Văn Hóa Và Một Số Khái Niệm Về Văn Hóa

Chủ nhật – 27/07/2008 08:08

Văn hóa và một số khái niệm về văn hóa

Những năm gần đây, nhận thức về vai trò quyết định của văn hóa ở nước ta được nâng lên đúng với giá trị đích thực của nó. Ngay từ Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV của Ban chấp hành Trung ương khóa VII đã khẳng định: văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, thể hiện tầm cao và chiều sâu về trình độ phát triển của một dân tộc, là sự kết tinh những giá trị tốt đẹp nhất trong quan hệ giữa người với người, với xã hội và với thiên nhiên. Nó vừa là một động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, vừa là một trong những mục tiêu của chúng ta. Các chính sách về văn hóa của Đảng ta thể hiện quan điểm: văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội. Chính vì vậy Đảng và nhà nước ta đang chủ trương xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Để làm được điều đó thì việc giữ gìn, phát huy và chấn hưng văn hóa dân tộc được đặt ra một cách cấp bách, đòi hỏi sự tham gia của nhiều ngành, nhiều giới.

Trong lịch sử, khái niệm văn hóa xuất hiện rất sớm ở phương Đông cũng như ở phương Tây. Trong thời kỳ Cổ đại ở Trung Quốc, văn hóa được hiểu là cách thức điều hành xã hội của tầng lớp thống trị dùng văn hóa và giáo hóa, dùng cái hay, cái đẹp để giáo dục và cảm hóa con người. Văn đối lập với vũ, vũ công, vũ uy dùng sức mạnh để cai trị. Ơ nước ta gần 600 năm trước, Nguyễn Trãi cũng đã mơ ước một xã hội văn trị, lấy nền tảng văn hiến cao, lấy trình độhọc vấn và trình độ tu thân của mỗi người làm cơ sở cho sự phát triển hài hòa của xã hội.

Ơ phương Tây, từ văn hóa bắt nguồn từ tiếng La tinh, có nghĩa là vun trồng, tạo ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người. Khái niệm văn hóa về sau phát triển ngày càng phong phú. Tùy cách tiếp cận khác nhau, cách hiểu khác nhau, đến nay đã có mấy trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa. Tuy khác nhau, nhưng các định nghĩa đó đều thống nhất ở một điểm, coi văn hóa là cái do con người sáng tạo ra, cái đặc hữu của con người. Mọi thứ văn hóa đều là văn hóa thuộc về con người, các thứ tự nhiên không thuộc về khái niệm văn hóa. Văn hóa là đặc trưng căn bản, phân biệt con người với động vật, cũng là tiêu chí căn bản để phân biệt sản phẩm nhân tạo và sản phẩm tự nhiên.

Con người là từ tự nhiên mà ra, không thể tách khỏi tự nhiên để tồn tại và phát triển. Văn hóa trước hết là một sự thích nghi chủ động và có ý thức của con người với tự nhiên, đồng thời lại là sự phát triển của sự thích nghi ấy. Với tính cách là một sinh vật, con người có một bản chất thứ nhất, đó là bản chất tự nhiên. Nhưng với tính cách là một sinh vật có ý thức và sống thành xã hội thì con người lại có bản chất thứ hai, đó là bản chất văn hóa, vượt ra khỏi bản chất tự nhiên, điều này đưa đến quan niệm coi văn hóa là tự nhiên thứ hai được hình thành và phát triển trên cơ sở tự nhiên thứ nhất tự tại: Là văn hóa, những gì không phải tự nhiên.

Việc xác định khái niệm văn hóa không đơn giản, bởi vì mỗi một học giả đều xuất phát từ những cứ liệu riêng, góc độ riêng, mục đích riêng phù hợp với vấn đề mình cần nghiên cứu để đưa ra các khái niệm về văn hóa. Chính vì thế mà Sapovalop trong tác phẩm Những cơ sở triết học của thời đại – cội nguồn của thế kỷ XX đã cho rằng Văn hóa đó là một khái niệm không thích hợp với loại định nghĩa một định nghĩa. Vì thế không phải ngẫu nhiên mà trong các tài liệu triết học có rất nhiều loại định nghĩa khác nhau và mỗi định nghĩa này chỉ ra những mặt riêng của hiện tượng văn hóa.

Khi tiếp cận khái niệm văn hóa, tùy từng mục tiêu, mục đích khác nhau của người nghiên cứu mà dựa trên các cách tiếp cận khác nhau và từ đó hình thành các định nghĩa khác nhau về khái niệm văn hóa. Xem xét mối tương quan giữa văn hóa và xã hội chúng ta có thể lựa ra bốn cách tiếp cận chủ yếu sau, đó là: tiếp cận giá trị học, tiếp cận hoạt động, tiếp cận nhân cách và tiếp cận ký hiệu học. Cả bốn góc tiếp cận này tuy khác nhau nhưng chúng đều dựa trên những nguyên tắc chung đó là dựa trên mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, dựa trên hình thái kinh tế xã hội và những nguyên tắc hoạt động của triết học Mác như nguyên tắc thực tiễn¦

Trong bốn cách tiếp cận trên thì cách tiếp cận giá trị học có một lịch sử lâu đời, đa dạng và cho đến tận bây giờ nó vẫn thể hiện vai trò thống trị của mình. Cách tiếp cận này không chỉ thâm nhập vào triết học mà còn có cả lý luận văn hóa, mỹ học, đạo đức học cùng nhiều bộ môn khoa học khác và đã dấy lên những cuộc tranh luận đến tận bây giờ. Quá trình phát triển của tiếp cận giá trị học đã thể hiện sự tìm kiếm bản chất của văn hóa theo ba cấp độ đối tượng: cấp độ vật chất, cấp độ chức năng và cấp độ hệ thống. Tương ứng với cấp độ vật chất của đối tượng là định nghĩa mô tả văn hóa như thế giới các đồ vật được con người sáng tạo và sử dụng trong quá trình lịch sử. Trong công trình: Được sáng tạo bởi nhân loại Iu.V.Brômlây và R.C.Pađôlưi đã khẳng định: Văn hóa trong ý nghĩa rộng rãi nhất của từ này, đó là tất cả những cái đã và đang được tạo ra bởi nhân loại. Hoặc trong tác phẩm Cơ sở văn hóa Việt Nam của tác giả Trần Ngọc Thêm đã định nghĩa: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội. Như vậy với cách định nghĩa này thì nội hàm của khái niệm văn hóa bao gồm: Thứ nhất, đó là những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người và vì con người. Thứ hai, những giá trị mà con người sáng tạo ra đó phải mang tính nhân tính nghĩa là nó phải mang tính người. Điều đó có nghĩa là có những giá trị do con người sáng tạo ra những nó không phải là giá trị văn hóa bởi vì nó không mang tính người, nó hủy hoại cuộc sống của con người¦ do đó không được cộng đồng chấp nhận như: bom nguyên tử, các vũ khí giết người hay chủ nghĩa khủng bố; một vấn đề nổi cộm trong giai đoạn hiện nay¦

Như vậy với định nghĩa giá trị về văn hóa trên, chúng ta có thể sử dụng để nghiên cứu lối sống, lối suy nghĩ, lối ứng xử của một dân tộc, một cồng đồng người. ví dụ như nghiên cứu văn hóa Việt Nam là chúng ta nghiên cứu lối sống của các dân tộc Việt Nam. Ngoài ra với định nghĩa trên cũng giúp phân biệt được đâu là một giá trị văn hóa, đâu không phải là giá trị văn hóa.

Tóm lại, trên bình diện phương pháp luận, xem xét mối tương quan giữa văn hóa và xã hội có thể lựa ra bốn cách tiếp cận chủ yếu về văn hóa đã nêu ở trên. Từ đó có các định nghĩa khác nhau về khái niệm này. Tùy cách tiếp cận khác nhau, cách hiểu khác nhau mà có những định nghĩa khác nhau về khái niệm này. Mỗi định nghĩa đều có điểm mạnh, điểm yếu của nó. Có thể nó chỉ đề cập đến một khía cạnh này mà bỏ qua khía cạnh kia của khái niệm văn hóa. Nhiệm vụ của chúng ta là phải xuất phát từ đối tượng nghiên cứu mà chọn định nghĩa cho phù hợp, để qua định nghĩa đó nó sẽ giúp chúng ta có thể làm sáng tỏ nội dung cần nghiên cứu và làm cho việc nghiên cứu thuận lợi và có hiệu quả hơn. Nhưng dù các định nghĩa có khác nhau như thế nào đi chăng nữa thì bao giờ nó cũng có điểm chung như đã nói ở phần đầu đó là văn hóa là cái do con người sáng tạo ra, cái đặc hữu của con người. Mọi thứ văn hóa đều là văn hóa thuộc về con người, các thứ tự nhiên không thuộc về khái niệm văn hóa. Văn hóa là đặc trưng căn bản, phân biệt con người với động vật, cũng là tiêu chí căn bản để phân biệt sản phẩm nhân tạo và sản phẩm tự nhiên. Đây chính là điểm mà các nhà nghiên cứu văn hóa cần nắm vững để tránh bị sa lầy vào một mê hồn trận các định nghĩa khác nhau về khái niệm văn hóa từ đó làm cản trở công việc nghiên cứu của mình.

Tác giả bài viết: Phạm Quang Tùng