Top 19 # Quê Định Nghĩa Là Gì / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Tvzoneplus.com

Quê Hương Là Gì, Ở Đâu / 2023

Nguyên Thạch (Danlambao) – Tôi không xem 800 báo đài trong hệ thống tuyên truyền của nhà cầm quyền cộng sản là Quê hương, mặc dù thỉnh thoảng tôi có một ít bài viết nhẹ nhàng cố tránh đụng chạm và phê phán cái cơ chế hiện hành nhưng bọn nô bút đại diện cho Ban tuyên giáo công sản vẫn không cho đăng. Có lẽ khi đọc những bài viết ấy, họ đã thấy được nhiều ẩn dụ của thứ ngôn từ mà họ cho là phản động hay sặc mùi phản động?.

*

Quê hương là gì, ở đâu? Hẳn rất nhiều định nghĩa tùy theo ký ức, cảm nhận riêng của mỗi người. Có người định nghĩa Quê hương là nơi chôn nhao cắt rún, là con đường làng bến nước cây đa, mái tranh nghèo có lũy tre xanh bên dòng sông êm ả, Quê hương là nơi tuổi thơ đánh đáo chơi bi…

Người ở lại thì cho Quê hương là chùm khế ngọt, nơi chia đắng sẻ bùi, là nơi để đặt niềm tin và hy vọng. Người ra đi thì cho rằng Quê hương là nơi đã chôn vùi kỷ niệm của một thời đã qua và giờ đây với bao tiếc nuối nhớ nhung…

Quê hương ở đâu? Với người trong nước thì mơ hồ rằng không biết Quê hương mình hiện giờ đang ở đâu? Với ĐCSVN thì cho rằng Quê hương mình là ở bên kia biên giới thuộc phương Bắc cho nên bằng mọi giá phải nghe theo lời dạy của đại thi hào bưng bô Tố Hữu tiên sinh:

Bên nay biên giới là nhà

Bên kia biên giới cũng là quê hương.

Hoặc:

Bên kia biên giới là tình

Bên nay biên giới cũng mình với ta.

Còn với người Việt ở hải ngoại thì Quê hương chỉ còn ở trong tâm khảm, trong quả tim với bao nỗi niềm đau đáu về một nơi đã thuộc quyền cai trị của bọn Thái thú tôi tớ cho ông chủ Chệt cộng.

Với tôi, Quê hương là tất cả quá khứ cùng hiện tại, với bao êm ái và với cả nhức nhối đau thương, với chuỗi kỷ niệm êm đềm lẫn bao trăn trở cho một đất nước có hơn 100 triệu dân đang quằn quại đau thương dưới ách tròng Việt cộng và Tàu cộng.

Hiện tại gần gũi nhất mà tôi cảm nhận Quê hương của tôi giờ đây là thôn Dân Làm Báo, nơi mà tôi có thể viết lên tâm tư, có thể nói lên những điều mà tôi suy nghĩ, để rồi cùng bạn hữu và quí còm sĩ trò chuyện dường như mỗi ngày. Không biết có bạn đọc, còm sĩ nào có cùng cảm nghĩ như tôi?. Nơi mà tôi và bạn cùng các tác giả có các bài viết mang đầy tâm nguyện, chứa đầy kiến thức, kinh nghiệm cùng những nhận định rất chính xác bởi được dựa trên nhiều dữ liệu đáng tin cậy của lịch sử, của thời cuộc để đem thông tin đến cho toàn dân hầu nâng cao thêm trình độ DÂN TRÍ, thứ mà bất cứ cuộc cách mạng nào cũng phải cần đến.

Tôi không xem 800 báo đài trong hệ thống tuyên truyền của nhà cầm quyền cộng sản là Quê hương, mặc dù thỉnh thoảng tôi có một ít bài viết nhẹ nhàng cố tránh đụng chạm và phê phán cái cơ chế hiện hành nhưng bọn nô bút đại diện cho Ban tuyên giáo công sản vẫn không cho đăng. Có lẽ khi đọc những bài viết ấy, họ đã thấy được nhiều ẩn dụ của thứ ngôn từ mà họ cho là phản động hay sặc mùi phản động?.

Chân lý có thể đúng ở bên này Thái Bình Dương nhưng sai ở bên kia mà Triết gia Thiên chúa giáo Pháp thế kỷ XVII Pascal có viết một câu trở thành tục ngữ: “Chân lý bên này rặng núi Pyrenees là sai lầm ở phía bên kia”. Tất nhiên những người cộng sản phải bảo vệ những gì mà họ cho là của họ và cho đó là đúng, bất luận ý kiến của số đông cho rằng những điều họ tin, những điều họ đã và đang làm là những gì đi ngược lại với trào lưu Dân Chủ, phản lại với ý nguyện của toàn dân. Nhưng chân lý bao giờ cũng là chân lý. Sự thật bao giờ cũng là sự thật mà tôi tin chắc rằng một ngày nào đó bọn họ (cộng sản) phải trả lại sự thật cùng chân lý cho người dân khi toàn dân đồng lòng vùng dậy giải trừ họ.

Một ngày nào đó có thể (xin nhấn mạnh là có thể) ĐCSVN sẽ vì rất tức tối vì các trang mạng Lề Dân đã làm bỉ mặt họ, đã trưng bày quá nhiều bằng chứng hùng hồn có thật không thể chối cãi, đã vạch trần những gì mà đối với họ đáng ra phải được giấu kín như những chuyện thuộc “thâm cung bí sử”, tức theo cộng sản là phải được tuyệt đối giữ bí mật thì họ sẽ bất chấp tấn công hoặc cho đánh sập các trang mạng đã gây cho ĐCS những thiệt hại to lớn này, tỉ dụ như Dân Làm Báo. Mất Dân Làm Báo, với tôi phần nào cũng còn đồng nghĩa với sự mất Quê hương. Điều này, có thể bạn sẽ cho rằng sao tôi đơn giản thế? Vâng, có lẽ bạn đúng mà cũng có thể bạn sai vì bạn đã có tầm nhìn chưa đầy đủ về những trang mạng “Lề Dân”, cái lề mà toàn đảng CSVN phải sợ, phải lo đối phó mà bằng chứng hùng hồn nhất là chúng cố dồn nhiều nỗ lực để ngăn cấm, như họ đã làm trong thời gian qua.

Tiền bạc và danh vọng đã khiến một số người trở nên BẤT CHÍNH! Dọc theo bọn người bất chính ấy, phần đông là đám đảng viên có quyền có chức mà cụ thể là BCT – TWĐ (Bộ Cá Tra), chúng đã hoàn toàn đánh mất lương tâm, trách nhiệm của những đứa con thuộc dòng giống Việt Nam, phản bội lại cha ông, quay lưng lại với dân tộc để bán đứng Quê hương cho giặc ngoại bang Tàu cộng qua hành vi ngầm ký kết “Mật Nghị Thành Đô 1990” tại Tứ Xuyên Trung cộng cũng như vâng lịnh 16 chữ vàng khè và 4 Tốt do bọn bành trướng Trung cộng ép buộc Nguyễn Phú Trọng phải quì lạy tuân thủ.

Ngày mai bọn bành trướng ngông cuồng Trung cộng sẽ đánh sập và thôn tính toàn bộ Biển Đảo đất nước Việt Nam thì đó là ngày mà tôi cùng tất cả các bạn sẽ mất đi một Quê hương rộng nghĩa hơn, bao quát hơn. Ngày tang thương đau buồn cho cả một dân tộc ấy có đến hay không là do chúng ta có cố gắng đấu tranh hay thờ ơ vô cảm.

9/10/2017

Quê Hương Là Gì Hở Mẹ? / 2023

P. NGUYỄN THÁI HỢP, GM[1]

Quê hương, Đất nước, Tổ quốc, Dân tộc, Quốc gia, Nước nhà, Nhà nước… những từ thật quen thuộc, nhưng cũng thật phức tạp và nhiều khi dị nghĩa. Đứng trên quan điểm lịch sử, văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị và nhất là ý thức hệ người ta có thể đưa ra nhiều lối giải thích và lập trường đối nghịch nhau[2]. Chỉ cần đọc lại một số bài viết của người Việt hải ngoại cũng như ở trong nước suốt mấy thập niên vừa qua, tất sẽ rõ cái cảnh ” ông nói gà, bà nói vịt” hoặc ” râu ông nọ, cắm cằm bà kia “. Tùy theo quan điểm và chọn lựa chính trị, người ta đã đưa ra nhiều quả quyết triệt để, đối lập và thường khi gay gắt, khai trừ nhau …

Nhìn lại những vòng xoáy và cơn lốc lịch sử mà Dân tộc đã bị cuốn hút trong khoảng một thế kỷ qua, không ai không khỏi ngậm ngùi và chua xót. Thắng bại đã đem lại những gì cho Đất-Nước khi tàn cuộc và đã đóng góp như thế nào vào việclàm cho người dân Việt bớt khổ đau? Nhiều vết thương hình như vẫn chưa lành! Mỗi lần động đến vẫn còn rướm máu! Truyền thống và những kinh nghiệm đau thương trong quá khứ sẽ là động lực hay sức cản cho công cuộc hội nhập, cũng như hiện đại hóa Đất nước? Việt Nam sẽ can đảm đồng hành với nhân loại trong ngàn năm thứ ba, hay cứ ôm ấp mãi một thứ “chủ nghĩa dân tộc khép kín”, bế quan tỏa cảng như các vua nhà Nguyễn thuở xưa?

1. Quê hương là gì hở mẹ?

Tôi rời Việt Nam sang Thụy sĩ năm 1972, vào giai đoạn “mùa hè đỏ lửa” và chiến cuộc tại Việt Nam ngày càng tăng tốc. Dự định sẽ trở lại quê hương khoảng 4 hay 5 năm sau đó. Nào ngờ thời cuộc xoay vần nên cứ phải đi, đi mãi, mà vẫn chưa thấy rõ ngày về! Suốt dọc thời gian dài sống nơi đất khách quê người, đã nhiều lần tôi phải thay đổi vùng văn hóa, thường xuyên bay vòng quanh thế giới và từ năm 1994 hầu như hàng năm vẫn trở về thăm quê hương. Thế mà, không hiểu tại sao mỗi lần máy bay xuống thấp và lượn vòng để chuẩn bị đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất, từ trên cao nhìn xuống thấy ruộng đồng quê hương thấp thoáng sau khung cửa hẹp… tự dưng lòng cứ nao nao, xúc động lạ thường…

Quê hương là gì hở mẹ? Ai đi xa cũng nhớ nhiều.

Thân mẫu tôi đã từ trần. Mà dù còn sống thì chắc chắn cũng không đủ khả năng và minh mẫm để trả lời những câu hỏi đó. Nhưng nhà thơ Đỗ Trung Quân đặt câu hỏi và chính ông đã đưa ra câu trả lời rất gợi hình, bằng lời thơ ngọt ngào :

Quê hương là chùm khế ngọt, Cho con trèo hái mỗi ngày. Quê hương là đường đi học,Con về rợp bướm vàng bay. Quê hương là con diều biếc, Tuổi thơ con thả trên đồng. Quê hương là con đò nhỏ, Êm đềm khua nước ven sông.Quê hương là vòng tay ấm,Con nằm ngủ giữa đêm mưa. Quê hương là đêm trăng tỏ, Hoa cau rụng trắng ngoài thềm.

Quê hương là nơi “chôn nhau cắt rốn”. Vùng đất ghi đậm bao kỷ niệm êm đềm của tuổi thơ, là nơi ông bà tổ tiên an giấc ngàn thu và cũng là nơi chúng ta chào đời, khôn lớn, thành người. Hơn thế nữa, Đất Nước, Quê hương nói cho cùng đâu phải chỉ là đền đài, lăng miếu, núi rừng hay danh lam thắng cảnh, mà trước hết và trên hết là những người thân yêu: cha mẹ, ông bà, tổ tiên… Quê hương đó thử hỏi có ai không yêu, không thương, không nhớ. Chính vì :

Quê hương mỗi người chỉ mộtNhư là chỉ một mẹ thôi.

Ôi quê hương !Dây tơ tình mỏng mảnhtrói hình hài trong ý nghĩa thiêng liêng.

Có những con đường, những khu phố, làng mạc, thôn xóm hay cảnh vật… khách quan mà nói chẳng có gì đặc sắc khiến chúng ta phải thương, phải nhớ … Nhưng không hiểu sao mỗi lần đã sống hay đã ít nhiều gắn bó, thì bỗng nhiên trở thành thân thiết. Ta không thể dễ dàng rũ áo ra đi, mà không bịn rịn, nuối tiếc.

Khi ta ở chỉ là nơi đất ở Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn.

Hai câu thơ trên của Chế Lan Viên cứ vang vọng và lắng sâu mãi trong tâm hồn những người sống xa quê hương. Đúng vậy, nhiều vật vô tri vô giác, những vùng đất khô cằn không tên tuổi, những chiếc cầu tre, những con suối nhỏ, cây phượng vĩ, dàn hoa giấy, khu phố đìu hiu … một lúc bất ngờ nào đó, bỗng ” hóa tâm hồn “, sống động và lưu luyến mãi trong lòng người ra đi.

Trong thời gian sống tại Mỹ châu Latin, một đôi lần được đón nhận những cử chỉ thân tình và sự tiếp đãi nồng hậu của người dân bản xứ đã làm tôi cảm động thực sự, đến nỗi có lần tôi đã nghẹn ngào nói với họ: tôi yêu mến vùng đất đó như ” quê hương thứ hai” . Niềm tin Kitô giáo và sứ vụ dấn thân của cuộc đời linh mục đã thúc đẩy tôi lựa chọn vùng đất ấy, một vùng đất mà theo lối nói của thi sĩ César Vallejo, ” đau khổ và chết chóc tăng theo tốc độ sáu mươi phút trong một giây”, nhưng rất năng động và đầy ắp tình người.

Khi hay tin tôi đã chọn lựa Mỹ châu Latin làm quê hương thứ hai, một số thân nhân và bạn hữu ầm ỹ góp ý kiến. Vài người đề cao ý thức dấn thân, nhưng đại đa số kịch liệt phản đối. Có những lần tôi đã trả lời một cách cao ngạo: Tôi sẽ sống chết với quê hương này. Một người bạn vong niên và từng trải, mỉm cười nói: “Anh chỉ có thể tự nguyện ở trọ dài hạn nơi đó thôi, ở trọ ngay chính trong ý thức chọn lựa của anh”. Không ngờ câu nói trên đã thành sự thực. Sau 15 năm dấn thân hoạt động, cuối cùng tôi đã giã từ Mỹ châu Latin với nhiều luyến tiếc … để có thể tiến gần về Quê Mẹ hơn.

Trong bài thơ ” Độ Tang Càn ” (Qua sông Tang Càn), Giả Đạo, một thi sĩ đời Đường, đã diễn tả thật sắc nét nỗi lòng của kẻ tha hương bằng lời thơ giản dị, nhưng rất sâu sắc. Có lẽ phải kinh qua cuộc sống tha hương mới cảm nhận trọn vẹn ý nghĩa tinh tế của nó.

Khách xá Tinh Châu dĩ thập sươngQuy tâm dạ ức Hàm DươngVô đoan cánh độ Tang Càn thủyKhước vọng Tinh Châu thị cố hương.

Thi sĩ Tản Đà đã dịch như sau :

Tinh châu đất khách trải mười hè,Hôm sớm Hàm Dương bụng nhớ quê.Qua bến Tang Càn, vô tích nữa,Tinh châu ngoảnh lại đã thành quê.

Giả Đạo sinh quán tại Hàm Dương, nhưng phải lưu lạc nơi đất khách quê người. Trong mười năm sống ở Tinh Châu lòng ông vẫn canh cánh nhớ về quê cũ Hàm Dương. Nào ngờ, ngày giũ áo ra đi, đặt chân lên bến Tang Càn, lại chợt nhớ Tinh Châu, quê hương thứ hai của mười năm tha hương. Tuy nhiên, Tinh Châu ở đây chỉ là Tinh Châu của mười năm hoài vọng quê hương. Cho nên, nói cho cùng, nhớ Tinh Châu mà thực ra đâu phải là nhớ Tinh Châu. Chẳng qua chỉ là nhớ nỗi nhớ nha khi ở Tinh Châu.

Thời gian đầu xa quê, nhiều đêm thao thức trằn trọc mãi mà không sao dỗ được giấc ngủ. Thông thường lòng hoài hương bộc lộ mãnh liệt nhất vào những dịp lễ lớn hay những lúc năm cùng tháng tận[3]. Tuy nhiên, nhiều khi nó cũng đến thật bất ngờ và bất chợt, bởi vì, như Huy Cận hay ai đấy đã viết:

Lòng quê dờn dợn vời con nước không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Đầu năm 1980, tôi rời Âu châu để đi Mỹ châu Latin. Hôm đó, ngoài trời tuyết rơi man mác làm tăng thêm nỗi buồn và nỗi niềm cô đơn. Sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975, tôi mất liên lạc với mẹ già và người thân, gia đình kẻ ở người đi, lưu lạc nhiều phương trời. Bây giờ, chính bản thân tôi lại đơn thương độc mã đi đến một chân trời rất xa lạ, không thân nhân, không cả người quen. Đã từ lâu lắm tôi không khóc, nhưng hôm đó bỗng dưng nước mắt chạy quanh.

Sau này, những đêm mất ngủ, nằm nghe mưa rơi ở một nơi xa xăm nào đó của Mỹ châu Latin, cảm thấy vừa nhớ nhà, vừa nhớ những tháng ngày buồn bã tại Âu châu, vì phải mòn mỏi trông chờ tin tức gia đình. Đến khi từ giã Mỹ châu Latin để đi Canada, rồi trở sang Ý thì lại càng nhớ cái ” quê hương thứ hai” này hơn. Phải chăng đó là giai đoạn có nhiều kỷ niệm đẹp và đồng thời cũng là thời gian nhớ quê hương da diết nhất. Bây giờ một đôi khi không những nhớ quê hương mà còn nhớ ” những cố hương” của lòng hoài vọng quê hương. Từ đó, mỗi lần đọc lại bài thơ của Giả Đạo càng cảm thấy thấm thía. Đúng như cụ Nguyễn Du đã viết ” đoạn trường ai có qua cầu mới hay “.

Hiện nay, mặc dù tóc đã ngả màu muối tiêu, nhưng ra như tôi vẫn nghe văng vẳng đâu đây lập luận dễ thương của cậu bé Enricô trong “Tâm Hồn Cao Thượng”: “Tại sao anh yêu xứ sở của anh? Câu hỏi ấy chẳng làm nẩy nở trong óc tôi biết bao nhiêu câu trả lời hay sao? Tôi yêu xứ sở của tôi vì mẹ tôi sinh trưởng ở đấy; vì nguồn máu trong mạch của tôi đều là của người; vì trong khu đất thánh kia đã chôn tất cả những người quá cố mà mẹ tôi thương, mà cha tôi trọng; vì đất mà tôi sinh, thứ tiếng tôi nói, quyển sách tôi học, các em tôi, chúng bạn tôi và một dân tộc lớn sống chung với tôi, cảnh đẹp của tạo hóa bao bọc chung quanh tôi, tóm lại tất cả những sự vật mà tôi trông thấy, tất cả những gì mà tôi yêu, tất cả những cái mà tôi quí, nhất nhất đều thuộc về xứ sở tôi cả”.

Thi hào R. Tagore từng sống nhiều năm lưu vong và cũng đã viết lên những nhận định sâu sắc về tình hoài hương: “Với tôi, lòng hoài hương của mỗi người không phải chỉ đơn thuần nhớ về thành quách, lâu đài, non cao, bể rộng, mà chính là những mảnh hồn nhỏ, đầy ắp kỷ niệm của một thời thương nhớ”. Thật vậy, đối với nhiều người Việt Nam tha hương, những “mảnh hồn nhỏ” này có thể là quê cha đất tổ, là ngôi trường cũ, là những kỷ niệm thưở thiếu thời, là tiếng ai đó rao hàng giữa đêm khuya hay hình ảnh người mẹ già mòn mỏi trông chờ, hoặc người cha từng giờ đợi con, người vợ, người chồng, người chị, đứa em và bao nhiêu khuôn mặt yêu thương khác…

2. Đất nước, Quốc gia, Dân tộc, Nhà nước

Người Việt Nam thường gọi quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn và sinh thành của mình, bằng nhiều từ quen thuộc và rất thân thiết : Đất – Nước, Non sông, Quốc gia, Dân tộc, Quê cha, Đất mẹ… Đây là Đất nơi người dân trồng cấy và sinh cơ lập nghiệp, là Nước nuôi cây lúa của một dân tộc theo nghề trồng lúa nước. Đất – Nước này cụ thể là gò đất, mảnh vườn, thửa ruộng, bờ đê, luỹ tre, mái tranh, bếp lửa, con đường, dòng sông, dãy núi… Chính Đất – Nước này giao hoà với nhau không những đã thành nơi sinh sống, mà còn hoá thành sự sống, thành cơm gạo, xóm làng, tình nghĩa, tâm tình, bản sắc của cả một dân tộc.

Như vậy, quê hương, non sông, đất nước không phải chỉ là cái gì thuần túy lý thuyết hay tinh thần, từ trên trời rơi xuống, nhưng là một thực tại khách quan, hết sức cụ thể, vật chất, máu mủ… Đây chính là Tổ quốc, nghĩa là mảnh đất do tổ tiên để lại. Đây là nơi tôi chào đời, khôn lớn, thành người, nhưng đồng thời cũng là nơi quê cha đất tổ hay quê nhà, đất mẹ. Chính nơi đây ông bà tổ tiên đã an giấc ngàn thu và rất có thể đó cũng là nơi một ngày kia chúng ta sẽ trở về khi từ trần, tạ thế.

Người ta cũng thường dùng khái niệm Quốc gia để phiên dịch chữ “nation” và mang một ý nghĩa na ná như Tổ quốc, nhưng đặt nổi khía cạnh văn hóa, xã hội và chính trị. Thật vậy, chỉ có Quốc gia khi những người sống trên cùng một lãnh thổ ý thức được gia sản tinh thần chung, một nếp sống riêng và quyết tâm tạo một Nhà nước độc lập. Như vậy, Quốc gia vừa chỉ quê cha, đất tổ, vừa bao hàm ý chí cùng nhau xây dựng một cơ cấu chính trị – xã hội riêng, mặc dù nhiều khi không có chung tôn giáo, chủng tộc hay ngôn ngữ.

Những di sản tinh thần, lễ giáo, tập quán, phong tục, đường lối ứng xử, nếp sống… hun đúc từ hàng bao thế kỷ thường được coi là gia sản văn hóa riêng của mỗi quốc gia. Tuy nhiên không bao giờ có thể đồng hóa chúng với một bảo tàng viện. Vì vậy, một quốc gia không thể tồn tại nếu thiếu vắng tương giao quốc tế và ý chí cùng nhau xây dựng một cộng đồng thế giới văn minh. Chủ trương “bế quan tỏa cảng” đã để lại những hậu quả đau thương cho dân tộc và là một trong những nguyên nhân của tình trạng tụt hậu hiện nay.

Khái niệm Dân tộc cũng tương đồng với khái niệm Quốc gia hiểu theo nghĩa ở trên. Dân tộc là một thực tại lịch sử, chứ không thuần túy là một thực tại tự nhiên, bởi vì dân tộc chỉ khai sinh khi có một lãnh thổ và cộng đồng những con người chấp nhận vai trò của một Nhà nước thống nhất, mà có người gọi là ” Nhà nước – Dân tộc”. Nói rõ hơn, dân tộc chỉ xuất hiện khi xã hội đã đạt đến một trình độ phát triển về lãnh thổ, kinh tế, chính trị, văn hóa nào đó. Các yếu tố chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, phong tục… có thể củng cố thêm tình đoàn kết và đẩy mạnh việc phát triển dân tộc, nhưng không phải là yếu tố quyết định, vì có những dân tộc xây dựng trên nguyên tắc đa chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo. Đứng trên quan điểm này, một số học giả cho rằng dân tộc Việt Nam chỉ hình thành kể từ giữa thế kỷ X, khi đất nước đã thoát khỏi ách thống trị của Trung Quốc và bắt đầu thời kỳ tự chủ.

Tình yêu quê hương cũng như tình tự dân tộc có thể dẫn đến chủ nghĩa ái quốc hay chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Đây là một thứ ý hệ có chủ đích vĩnh viễn hóa các thực tại dân tộc và khuyếch đại, thần thánh hóa những gì được coi là giá trị đặc thù, bản sắc hay tinh hoa của một dân tộc. Nhà cầm quyền thường sử dụng chủ nghĩa dân tộc này theo những mục tiêu mang tính chất quyền lực: để đoàn kết nhân dân, tập hợp các lực lượng hầu thống nhất dân tộc, để đương đầu với ngoại xâm hay để đánh bại những thành phần đối lập trong nước. Trong lịch sử nhân loại hiện đại, chủ nghĩa dân tộc khép kín đã làm chảy không biết bao nhiêu máu và nước mắt. Những kế hoạch thiêu sống của Đức quốc xã trong thời đệ nhị thế chiến hay các cuộc thảm sát ở Ruganda, Kosovo, Đông Timor… vào cuối thế kỷ 20 là những dẫn chứng hiển nhiên và gần gũi nhất.

Theo Lữ Phương, “cũng là những thực tại lịch sử, nhưng dân tộc hình thành lâu dài và ổn định hơn chủ nghĩa dân tộc. Cũng phát xuất từ một dân tộc, nhưng tùy theo mỗi thời kỳ, tùy theo những phát hiện mới về bản thân thực tại dân tộc, sẽ có những chủ nghĩa dân tộc khác nhau ra đời. Chủ nghĩa dân tộc vì thế không phải là hiện thực về dân tộc: có nhiều ý thức hệ khác nhau về dân tộc, vì vậy nó thay đổi nhanh chóng theo thời gian. Chủ nghĩa dân tộc thường ra đời vào những khúc quanh của cuộc sống dân tộc: khi dân tộc đang hình thành, đang đấu tranh bảo vệ sự tồn tại của nó, hoặc đang trên đà bành trướng, đặc biệt trong những lúc có chiến tranh với các thế lực bên ngoài. Ít khi chủ nghĩa dân tộc tồn tại riêng rẽ, nó thường quyện vào những thứ ý thức hệ về tôn giáo, về chủng tộc để tạo thêm sức mạnh”.

Ông cho rằng nếu so sánh cách lập luận về chủ nghĩa dân tộc của một số nhà lý luận tại Việt Nam hôm nay với “cung cách ăn nói, viết lách của những nhà cầm quyền phong kiến thời xưa, chúng ta sẽ thấy sự giống nhau nhiều lúc thật y như khuôn đúc: chỉ có ta là nghênh ngang một cõi, ngoài ra đều là bọn di dương, bạch quỷ, tà đạo (…). Cái ý thức hệ gọi là “Mác – Lênin” mà những nhà lý luận cộng sản coi là “tất yếu” để đưa đất nước vào con đường hiện đại hóa đích thực thật sự chỉ là một trong những sản phẩm cực đoan và ảo tưởng nhất của phương Tây, và dưới cái dạng du nhập của nó vào Việt Nam, nó không khác gì với cái ý thức hệ cầm quyền mà những nhà Nho trước đây đã mượn của Trung Hoa làm cái của mình: đó chỉ là một cái thay thế về danh nghĩa”.

Cuối cùng, khái niệm Nhà nước tương đối mới, được xử dụng để chỉ một cơ cấu pháp lý hay một tổ chức pháp quyền nhằm giải quyết vấn đề chung sống trong xã hội. Xét như cơ quan pháp lý tối cao của xã hội, Nhà nước cũng là một cơ quan quyền lực. Khi cần Nhà nước có quyền dùng sức mạnh hợp pháp (cảnh sát, công an, quân đội…) để thi hành luật pháp và đảm bảo công ích. Tuy nhiên, trong thế giới tân tiến hôm nay, quyền lực của Nhà nước phải là một quyền lực khách quan dựa trên yếu tố pháp lý và lấy Hiến pháp làm nền tảng. Đây là những nguyên tắc pháp lý căn bản và khách quan mà chính các nhà cầm quyền cũng phải tôn trọng.

3- Câu chuyện dài phức tạp

Trong mấy thế kỷ vừa qua, các nhà tư tưởng đã đưa ra nhiều mô hình Nhà nước nhằm trả lời cho những thách đố về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa của nhân loại. Cho đến nay, chẳng ai có thể chứng minh mô hình nào hoàn hảo, lí tưởng, thích hợp cho mọi thời, mọi nơi. Nói cho cùng, tất cả chỉ là phương tiện và luôn mang tính thời gian. Trên hành trình dài của nhân loại, rất có thể vào một lúc nào đó mô hình này hay biện pháp nọ đem lại kết quả khả quan, nhưng khi hoàn cảnh thay đổi, những giải pháp cũ không còn hợp thời hay hữu dụng nữa thì đương nhiên phải thay thế. Nhà Lý, nhà Lê, nhà Trần, nhà Nguyễn đã tiếp nối nhau đi vào quá khứ. Các chủ nghĩa hay thể chế khác rồi ra cũng không thoát khỏi qui luật đào thải tự nhiên đó. “Quan nhất thời, dân vạn đại”, người xưa vẫn thường nói thế.

Nhưng mặt khác cũng không thể chấp nhận thái độ “giận cá chém thớt”: vì bất đồng quan điểm chính trị với nhà cầm quyền hiện tại, mà nhất quyết chủ trương đoạn tuyệt với quê hương. Có những người đã đi từ thái độ đối lập chính trị đến chủ trương hô hào cấm vận, chống bang giao, chống tự do mậu dịch giữa Mỹ với Việt Nam. Một vài cộng đồng Việt Nam hải ngoại đã không ngần ngại liên kết chủ trương “chống Cộng” với việc tẩy chay hàng hóa của đồng bào trong nước hay tuyệt đối chống những chương trình yểm trợ cho đất nước, thay vì đáng lẽ ra cần tích cực yểm trợ và đặt ưu tiên.

Trong viễn cảnh đó, chuyện Quê hương, Đất nước, Dân tộc, Quốc gia, Nước nhà, Nhà nước… trở thành câu chuyện dài phức tạp và nhiêu khê. Đàng sau hình ảnh ” quê hương” và ” đất nước” hiền dịu và thân thương ấy là dân tộc Việt Nam, oai hùng và bi thảm, với nhiều đau thương, gian khổ nhưng cũng rất nặng tình, nặng nghĩa. Từ đó, quê hương đâu phải chỉ là quê hương xinh xinh, êm đềm, thơ mộng của tuổi thơ, mà còn bao gồm tất cả chiều kích văn hóa, lịch sử, chính trị, xã hội, kinh tế… với bao nhiêu kinh nghiệm và kỷ niệm đau thương. Tất cả những yếu tố đó kết tụ lại, đan xéo, chồng chéo, giằng co nhau, làm cho nhiều người Việt Nam trong giai đoạn qua vừa hãnh diện vừa mặc cảm về đất nước mình.

Người nông dân Việt Nam ngày xưa thường chỉ quanh quẩn chung quanh lũy tre làng và ít ai muốn chết bên ngoài quê hương của mình. Vậy mà cuối cùng, vì hoàn cảnh và vì thời cuộc, hàng vạn, hàng triệu người phải bỏ quê cha đất tổ ra đi. Nếu như trước đây một số người cực lực lên án cuộc di cư 1954 là phản động, phản dân tộc thì làn sóng tị nạn ồ ạt sau 1975 đã làm cho nhiều người phải nghiêm chỉnh suy nghĩ về mối tương quan giữa chính trị với nhân quyền, giữa vai trò của Nhà nước với nhân phẩm và quyền lợi của người dân.

Nhìn lại giai đoạn khủng hoảng trầm trọng vào 1975 -1985, chính bác sỹ Nguyễn Khắc Viện cũng phải công nhận một thực tế đau xót về về vấn đề kinh tế – xã hội – chính trị. “Sản phẩm nông nghiệp, kỹ nghệ, tiểu công nghệ giảm sút trầm trọng, chợ đen được đặc biệt ưu đãi do cơ chế một thị trường kép -thị trường tự do song đôi với thị trường qui định theo giá cả của Nhà nước- trải rộng thật nhanh ảnh hưởng tiêu cực của nó. Lạm pháp tăng vùn vụt, một mặt gây nên tình trạng bần cùng hóa nhanh chóng của nhiều tầng lớp trong nhân dân, đặc biệt giới công chức và công nhân của các xí nghiệp quốc doanh, mặt khác làm giàu nhanh chóng cho một thiểu số buôn lậu, cán bộ thoái hóa. Dân chúng ngày càng bất mãn và tính hợp pháp của chế độ bắt đầu bị xói mòn(…) Chỉ trong mấy năm, một triệu rưỡi người bỏ nước ra đi, cộng đoàn hải ngoại tạo thành một yếu tố đích thực mới lạ trong lịch sử dân tộc Việt Nam”.

4- Nhãn quan thời đại

Quan niệm Nhà nước – Quốc gia, từng là nền tảng của cơ cấu chính trị trong những thế kỷ trước, hôm nay đang nhường bước cho một quan niệm chính trị mới mang tính toàn cầu hơn. Tổ chức đóng kín cố cựu dựa trên mỗi dân tộc, mỗi quốc gia, mỗi văn hóa đang lùi bước trước những cơ cấu tổ chức mới có tính vùng, miền, lục địa hay hoàn cầu. Hiện tượng đa văn hóa, những tiến triển về khoa học kỹ thuật, nhất là công nghệ thông tin, toàn cầu hóa kinh tế, việc nổ bùng phong trào di dân đang khai mở viễn tượng một “làng thế giới” và một “gia đình nhân loại”. Người dân các nước chậm tiến đang được giải thoát dần dần khỏi sự ức chế và đóng kín của “Nhà nước – Quốc gia” để trở thành công dân của vùng, của lục địa hay thế giới.

Ngày xưa, Hegel đã thần thánh hóa Nhà nước khi quan niệm nó như ” tinh thần tự-phát-triển thành hình thức và tổ chức như chúng ta đang nhìn thấy”. Nhà nước là cơ chế trong đó “đạo đức tính” được thể hiện dưới dạng thức cao nhất, nghĩa là một tổng hợp giữa luật lệ (pháp chế ngoại tại) và luân lý (luật nội tại). Do đó, Nhà nước có quyền tối cao trên mỗi cá nhân; ngược lại, nghĩa vụ tiên quyết của mỗi cá nhân chính là chu toàn bổn phận của một người dân.

Theo quan điểm của phái nhân bản, chính con người mới có giá trị tối thượng, chứ không phải Quốc gia, Dân tộc, Nhà nước hay bất cứ một cơ cấu chính trị nào khác. Nếu nhìn lại lịch sử cận đại bằng cặp mắt không định kiến, chắc hẳn người ta phải thừa nhận rằng nhờ xác tín vững mạnh và sự kháng cự kiên cường của những người tranh đấu cho nhân quyền mà hôm nay nhiều người đã chính thức thừa nhận lý tưởng nhân quyền là ” chân trời đạo lý của thời đại ” (Robert Balinter).

Giáo huấn xã hội của Công giáo cũng không nhìn nhận quốc gia như mục tiêu tối thượng của cuộc sống. Con người có những quyền lợi tự nhiên và một sứ mệnh vượt trên thực tại thế trần, mà chính quốc gia phải tôn trọng. Nếu người Do Thái thời xưa thần thánh hóa luật giữ ngày “hưu lễ”, biến nó thành bất khả xâm phạm và nhiều khi còn đặt nó trên cả con người, Đức Kitô, trái lại, đã thẳng thắn và cương quyết xác định mối tương quan giữa con người với lề luật như sau: ” Ngày sabát vì con người, chứ không phải con người vì ngày sabát”. Nói cách khác, cơ cấu chính trị, luật pháp, văn hóa… chỉ có ý nghĩa trong viễn tượng phục vụ và làm triển nở con người. Không thể đảo lộn mức thang giá trị để biến hay bắt con người làm vật hy sinh cho những cơ chế đó.

Giáo chủ Gioan Phaolô II đúc kết ngắn gọn như sau: “Theo truyền thống chung, người ta xếp các quyền của con người thành hai loại, một bên là các quyền công dân và chính trị, và bên kia là các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa. Các hiệp ước quốc tế bảo đảm hai loại quyền này, cho dù với những cấp độ khác nhau. Kỳ thực, các quyền của con người liên kết chặt chẽ với nhau, vì chúng diễn tả các chiều kích đa diện của cùng một chủ thể duy nhất là con người. Cổ võ tất cả các loại nhân quyền là bảo đảm thật sự việc tôn trọng trọn vẹn mỗi một loại nhân quyền. Bảo vệ tính phổ quát và bất khả thay thế của nhân quyền là điều kiện cần thiết để xây dựng một xã hội hòa bình và để phát triển toàn diện các cá nhân, các dân tộc và các quốc gia”.

Bản “Tuyên ngôn phổ quát về nhân quyền” của Liên Hiệp Quốc đã xác định rõ rệt: “Mọi người đều có quyền tự do đi lại, tự do chọn nơi cư trú trong mỗi nước. Mọi người đều có quyền rời khỏi bất cứ nước nào, kể cả nước mình, và có quyền trở về nước mình” (điều 13). Chính vì thế, khi quê hương không còn là vùng đất sống hay không đủ khả năng nuôi sống người dân, mỗi người có quyền tìm một vùng đất khác để bảo vệ mạng sống và phát triển con người toàn diện.

Trong mấy thập niên vừa qua, vì hoàn cảnh, nhiều người Việt nam phải rời quê cha đất tổ để đi tìm… đất sống. Rất có thể nhiều người là “những đứa con phải rời xa Tổ quốc” và ” chỉ sống nửa tâm hồn “, nhưng họ đã bắt buộc phải lựa chọn ra đi, ngậm ngùi nuốt nước mắt mà đi. Đối với một số người khác, ra đi là cơ hội ngàn vàng để thoát khỏi cảnh nghèo đói tích lũy từ bao đời. Một ông Việt kiều nào đó tại Nga mạnh dạn đặt vấn đề và thẳng thắn nói lên lý do chọn lựa của mình:

Có lẽ nhiều người sẽ “nổi đóa” đòi xử trảm hay bỏ tù tác giả bài thơ “Đi đi em”, một thứ văn học dân gian mới, phóng tác từ thơ Tố Hữu. Mặc dù không hoàn toàn tán đồng quan điểm của bài thơ, nhưng bản thân người viết suốt dọc những năm dài tha hương, rất nhiều lần đã cảm thấy thấm thía cái thân phận làm người Việt Nam “đi đến đâu cũng bị rầy la xua đuổi”. Cho dù có giấy mời, giấy giới thiệu, cộng thêm tư cách giáo sư và cái “mác” linh mục, nhưng với quốc tịch và hộ chiếu Việt Nam, suốt hai thập niên 1980 – 1990, tôi vẫn phải nhẫn nhục van xin và chờ đợi dài cổ mới xin được visa. Nhiều lần cũng bị các Sứ quán ngoại quốc từ chối khéo hay rầy la xua đuổi thực sự.

Nhưng có lẽ oan nghiệp và trắc trở còn nhiều hơn khi muốn trở về quê hương của mình. Trước đây, mặc dù có hộ chiếu Việt Nam, nhưng xin thị thực về nước là chuyện trần ai, hầu như là một ân huệ, mà Nhà nước thường ban nhỏ giọt cho một số người nào đó thôi. Không biết trong thế giới tân tiến hôm nay còn bao nhiêu nước đòi hỏi công dân của mình phải xin thị thực mỗi lần trở về quê hương?

Từ cuối thập niên 90′, Nhà nước đã hủy bỏ việc xin thị thực xuất nhập cảnh cho các công dân Việt Nam hiện sống tại hải ngoại. Trên nguyên tắc, các công dân Việt Nam cũng có thể xin về sống trong nước, nhưng trong thực tế mấy ai vượt qua những thủ tục phiền hà và phức tạp hiện tại? Bao giờ người công dân Việt Nam mới được tự do trở về định cư nơi chính quê hương của mình?

Hồi nhỏ, đọc Thánh Kinh và lịch sử thế giới, tôi cảm thương cho thân phận lưu đày của người Do-thái. Sau này, mỗi lần nghĩ đến số phận người Việt tha hương, tôi lại băn khoăn tự hỏi không biết người Việt tha hương có cái gì tương tự với số kiếp lang bạt của người Do-thái hay không? Và chợt nhớ bài thơ “Chuyện buồn” của Tế Hanh:

Những rắc rối về di chuyển và cư trú nghĩ cho cùng thực ra cũng chỉ là chuyện nhỏ và phụ thuộc thôi. Còn bao chuyện lớn và đau nhức khác. Đôi lúc người viết cũng băn khoăn tựhỏi ” có phải làm người Việt Nam là một kiếp nợ nần ? ” Giả sử phải tái sinh làm người và được tự do lựa chọn, chưa chắc tôi dám chọn làm người Việt Nam trong giai đoạn này. Nhưng dù sao mảnh đất mang hình chữ S đã là quê hương của tổ tiên và của chính bản thân, cộng thêm tư cách một tu sĩ đã cam kết dấn thân phục vụ những nơi cần đến sự hiện diện của mình hơn cả, cho nên dù khó khăn trắc trở đến đâu, tôi vẫn kiên trì giữ quốc tịch Việt Nam bao lâu có thể và sẽ nhất quyết trở về miền đất mẹ, khi hoàn cảnh cho phép.

Nhưng tại chính quê hương, giữa thời đổi mới, nhiều lần tôi vẫn còn ngờ ngợ, nửa mơ nửa thật. Nhiều lần giật mình hốt hoảng… không hiểu mình đang ở nơi đâu! Có những đêm nghe tiếng chó sủa hay tiếng đập cửa từ đâu vọng lại, giật mình thức giấc… hoảng sợ… cứ ngỡ lại thêm một lần nữa công an đến xét giấy. Từ năm 1995, tôi thường xuyên trở về Việt Nam. Thế mà, hầu như lần nào cũng vậy, chỉ khi máy bay đã cất cánh, bỏ lại quê hương xa mờ… sau khung cửa hẹp… tôi mới thực sự cảm thấy nhẹ nhõm và an tâm. Phải chăng như Lê Bi đã viết:

Giữa tổ quốc tôi vẫn mất mình và ngờ ngợ như người vô tổ quốc.

[1] Trích từ Giá trị đạo đức trong cơn lốc thị trường, Houston, 1999, với một vài bổ túc nho nhỏ.

[2] Xem chẳng hạn, B.C. Shafer, Le Nationalisme, Mythe et Réalité, Payot, Paris, 1964 ; Trần Văn Giàu, Trong dòng chủ lưu của văn học Việt Nam. Chủ nghĩa yêu nước, NXB Văn Nghệ, Tp. HCM, 1983; Bàng Bá Lân, Hương Hoa Đất Nước, Quê Hương, Toronto, Canada, 1982; Nguyễn Khắc Viện, Kể chuyện Đất nước, NXB Thế giới, Hà Nội, 1993 ; Đỗ Mạnh Tri, ” Nhà, Nước, Nước Nhà, Nhà nước”, trong Tin Nhà (Paris), số 23, 3/1996, tr. 3-1; Nguyễn Thái Hợp, Một nửa hành trình của con người và quê hương,Chân Lý, Canada, 1997; Trần Kim Đoàn, Chuyện Khảo về Huế,NXB Làng Thủ đô, Cali 1997; Lữ Phương, ” Chủ nghĩa Dân tộc Việt Nam “, Tin Nhà (Paris), số 37, 1/1999, tr. 22-32.

[3] Tâm trạng của Đới Thức Luân đời Đường trong quán trọ giữa đêm trừ tịch cũng là cảm nghiệm của nhiều người tha hương :

Có người đã dịch như sau :

[4] Edmond De Amicis, Tâm hồn cao thượng, Hà Mai Anh dịch, NXB Thanh Niên, Tp. HCM, 1990, tr. 76.

[5] Xc. Kim Định, Nguồn gốc văn hóa Việt Nam, Sài-gòn, Nguồn Sống, 1973; Đinh Gia Khánh, Văn hóa dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn hóa Đông Nam A, Hà Nội, KHXH, 1993 Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB Tp. HCM, 1997; Thái Văn Kiểm, Việt Nam tinh hoa, NXB Mõ làng, 1997.

[6] Lữ Phương, ” Chủ nghĩa Dân tộc Việt Nam “, Tin Nhà (Paris), số 37, 1/1999, tr. 29.

[8] Lữ Phương, Ibidem, tr. 29 & 30.

[9] Nguyễn Khắc Viện, Vietnam, une longue histoire, Thế Giới, Hà Nội, 1993, tr. 431 & 436.

Trước thảm cảnh một số người Việt tị nạn tại Hồng Kông đã đem chính sinh mạng và “phẩm hạnh” của minh để chống lại việc cưỡng bách hồi hương bằng bạo lực, Lê Bi đã viết những lời bi đát và thê lương:

Bắn vào trại cấm này 40 trái đạn cay Hàng trăm cảnh sát Hồng Kông lôi ra những người liều mình ở lại Kẻ có quê hương, sao thà sống trong trại tù khóa trái Những giọt lệ cay chắc gì vì khói đạn cay.

[10] Xin xem Jacques Maritain, Man and the State, University of Chicago Press, 1952; J. Messner, Social Ethics, St.Louis-London, Herder Book Co., 1965; J. Moltmann, Religion and Political Society, New York,1974.

Tác giả: Nguyễn Thái Hợp, Gm.

[11] Gioan Phaolô II, Bí quyết của Hòa bình chân thật là tôn trọng Nhân quyền, Sứ điệp Ngày Hòa bình thế giới, 1-1-1998, số 3.

Nguồn : Dũng Lạc

Xác Định Nguyên Quán, Quê Quán Của Con Khi Khai Sinh? / 2023

Thưa Luật sư! Luật sư cho em hỏi em đi khai sinh cho con nhưng em chưa biết xác định nguyên quán, quê quán của con như thế nào? Mong Luật sư giúp đỡ em ạ, xin cảm ơn Luật sư!

– Luật hộ tịch năm 2014

Điều 4. Giải thích từ ngữ

8. Quê quán của cá nhân được xác định theo quê quán của cha hoặc mẹ theo thỏa thuận của cha, mẹ hoặc theo tập quán được ghi trong tờ khai khi đăng ký khai sinh.

Điều 4. Xác định nội dung đăng ký khai sinh, khai tử 1. Nội dung khai sinh được xác định theo quy định tại Khoản 1 Điều 14 của Luật Hộ tịch và quy định sau đây: a) Họ, chữ đệm, tên và dân tộc của trẻ em được xác định theo thỏa thuận của cha, mẹ theo quy định của pháp luật dân sự và được thể hiện trong Tờ khai đăng ký khai sinh; trường hợp cha, mẹ không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được, thì xác định theo tập quán; b) Quốc tịch của trẻ em được xác định theo quy định của pháp luật về quốc tịch; c) Số định danh cá nhân của người được đăng ký khai sinh được cấp khi đăng ký khai sinh. Thủ tục cấp số định danh cá nhân được thực hiện theo quy định của Luật Căn cước công dân và Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Căn cước công dân, trên cơ sở bảo đảm đồng bộ với Luật Hộ tịch và Nghị định này; d) Ngày, tháng, năm sinh được xác định theo Dương lịch. Nơi sinh, giới tính của trẻ em được xác định theo Giấy chứng sinh do cơ sở y tế có thẩm quyền cấp; trường hợp không có Giấy chứng sinh thì xác định theo giấy tờ thay Giấy chứng sinh theo quy định tại Khoản 1 Điều 16 của Luật Hộ tịch. Đối với trẻ em sinh tại cơ sở y tế thì nơi sinh phải ghi rõ tên của cơ sở y tế và tên đơn vị hành chính cấp xã, huyện, tỉnh nơi có cơ sở y tế đó; trường hợp trẻ em sinh ngoài cơ sở y tế thì ghi rõ tên đơn vị hành chính cấp xã, huyện, tỉnh nơi trẻ em sinh ra.đ) Quê quán của người được đăng ký khai sinh được xác định theo quy định tại Khoản 8 Điều 4 của Luật Hộ tịch.

2. Xây dựng lớp mầm non có phải xin phép xây dựng ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi là chủ trường mầm non trường đã hoạt đông nay tôi muốn xây lại 4 phòng học diện tích là 200 m2 vị tí trường ở nông thôn ,vùng đồng bào dân tộc thiểu số vậy tôi có phải xin cấp phép xây dựng không ?

Hướng dẫn thủ tục cấp giấy phép xây dựng, gọi ngay: 1900.6162

Luật sư trả lời:

Căn cứ vào Luật xây dựng 2014 , có quy định về việc miễn giấy phép xây dựng cho các công trình xây dựng taị điều 89 như sau :

Điều 89. Đối tượng và các loại giấy phép xây dựng:

1. Trước khi khởi công xây dựng công trình, chủ đầu tư phải có giấy phép xây dựng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Công trình được miễn giấy phép xây dựng gồm:

a) Công trình bí mật nhà nước, công trình xây dựng theo lệnh khẩn cấp và công trình nằm trên địa bàn của hai đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên;

b) Công trình thuộc dự án đầu tư xây dựng được Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp quyết định đầu tư;

c) Công trình xây dựng tạm phục vụ thi công xây dựng công trình chính;

d) Công trình xây dựng theo tuyến ngoài đô thị nhưng phù hợp với quy hoạch xây dựng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt hoặc đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận về hướng tuyến công trình;

đ) Công trình xây dựng thuộc dự án khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao có quy hoạch chi tiết 1/500 đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và được thẩm định thiết kế xây dựng theo quy định của Luật này;

e) Nhà ở thuộc dự án phát triển đô thị, dự án phát triển nhà ở có quy mô dưới 7 tầng và tổng diện tích sàn dưới 500 m2 có quy hoạch chi tiết 1/500 đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;

g) Công trình sửa chữa, cải tạo, lắp đặt thiết bị bên trong công trình không làm thay đổi kết cấu chịu lực, không làm thay đổi công năng sử dụng, không làm ảnh hưởng tới môi trường, an toàn công trình;

h) Công trình sửa chữa, cải tạo làm thay đổi kiến trúc mặt ngoài không tiếp giáp với đường trong đô thị có yêu cầu về quản lý kiến trúc;

i) Công trình hạ tầng kỹ thuật ở nông thôn chỉ yêu cầu lập Báo cáo kinh tế – kỹ thuật đầu tư xây dựng và ở khu vực chưa có quy hoạch chi tiết xây dựng điểm dân cư nông thôn được duyệt;

k) Công trình xây dựng ở nông thôn thuộc khu vực chưa có quy hoạch phát triển đô thị và quy hoạch chi tiết xây dựng được duyệt; nhà ở riêng lẻ ở nông thôn, trừ nhà ở riêng lẻ xây dựng trong khu bảo tồn, khu di tích lịch sử – văn hóa;

3. Xây dựng, cơi nới thêm diện tích khu tập thể có trái pháp luật ?

Luật Minh Khuê Tư vấn đòi nợ bán hàng và yêu cầu bồi thường thiệt hại và các vấn đề pháp lý phát sinh đến việc đòi nợ, khởi kiện đòi nợ theo quy định của pháp luật:

Trả lời: 1. Xem xét vụ việc còn trong thời hiệu khởi kiện hay không?

Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 429 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì

Điều 429. Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng

Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

Trong trường hợp vụ việc đã quá thời hạn thì đương sự cần lưu ý đến trường thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện theo quy định

2. Thẩm quyền khởi kiện tào án?

Căn cứ theo Bộ luật tô tụng dân sự 2015 thì đương sự có quyền yêu cầu Tòa án cấp Huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc để khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết nếu đương sự không ở nước ngoài, tài sản tranh chấp không ở nước ngoài và không cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan ở nước ngoài. Nếu đương sự ở nước ngoài hoặc tài sản tranh chấp ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan ở nước ngoài thì đương sự phải yêu cầu Tòa án cấp Tỉnh nơi bị đơn cư trú, làm việc để khởi kiện.

3. Hồ sơ khởi kiện bao gồm:

– Đơn khởi kiện ( Bạn có thể lên trang web: chúng tôi để tải mẫu đơn khởi kiện )

– Giấy tờ vay nợ và các tài liệu khác.

– Giấy xác nhận của cơ quan nhà nước về địa chỉ cư trú, làm việc của bị đơn

– Chứng minh nhân dân và Hộ khẩu của người khởi kiện

– Giấy tờ chứng minh vụ việc vẫn còn thời hiệu khởi kiện (nếu có).

3. Thủ tục giải quyết đòi nợ tại tòa án 3.1.Thủ tục thụ lý vụ án

Sau khi nhận hồ sơ khởi kiện nếu vụ việc thuộc trường hợp trả lại đơn khởi kiện thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện cho người khởi kiện. Nếu vụ việc không thuộc trường hợp trả lại đơn khởi kiện nhưng Đơn khởi kiện chưa đúng mẫu quy định hoặc không đủ các nội dung quy định thì Tòa án thông báo cho người khởi kiện sửa đổi, bổ sung theo thời hạn ấn định.

4. Xử phạt hành chính trong lĩnh vực xây dựng ?

Xin luật sư chỉ cho tôi được biết. trân trọng cảm ơn !

Luật sư tư vấn:

Chào bạn, căn cứ theo Điều 12 Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định như sau :

Xử phạt các hành vi vi phạm quy định về sử dụng, khai thác trong phạm vi đất dành cho đường bộ

Điều 12. Xử phạt các hành vi vi phạm quy định về sử dụng, khai thác trong phạm vi đất dành cho đường bộ

1. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với cá nhân, từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng đối với tổ chức thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Bán hàng rong hoặc bán hàng hóa nhỏ lẻ khác trên lòng đường đô thị, trên vỉa hè các tuyến phố có quy định cấm bán hàng, trừ các hành vi vi phạm quy định tại điểm c khoản 2, điểm b khoản 5, điểm e khoản 6 Điều này;

b) Phơi thóc, lúa, rơm, rạ, nông, lâm, hải sản trên đường bộ; đặt máy tuốt lúa trên đường bộ.

5. Bồi thường thiệt hại do xây dựng gây ra ?

Kính gửi luật sư Minh Khuê! Hiện tại nhà tôi đang trong quá trình xây dựng và 2 bên trái và phải của nhà tôi cũng đã xây xong 1 năm (2 nhà đều 2 tầng) và căn nhà phía sau đất nhà chúng tôi đã bị nứt trước khi nhà tôi được xây dựng (đã có xác nhận giữa 2 bên chủ nhà bị nứt và gia đình tôi).

Tuy nhiên căn nhà bị nứt chỉ nằm 1/5 (chỉ là nhà tắm thô sơ) diện tích thẳng đất nhà tôi còn diện tích còn lại thuộc đối diện nhà phía bên phải nhà tôi. Hiện tại thì căn nhà phía sau bị nứt nhiều hơn và gia đình nhà bị nứt nói 2 nhà trước xây bị nứt ít nhưng khi nhà tôi xây lên thì bị nứt nhiều hơn nên trách nhiệm phải do gia đình tôi bồi thường. Xin luật sư cho biết trong trường hợp này gia đình tôi phải bồi thương như thế nào ạ?

Trả lời:

Điều 605 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

Điều 605. Bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây raChủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác đó gây thiệt hại cho người khác.Khi người thi công có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại thì phải liên đới bồi thường.

Hai bên có thể tự xác định mức thiệt hại của công trình liền kề nếu không tự xác định được mức độ thiệt hại thì một trong hai bên có thể thuê cơ quan định giá để xác định mức thiệt hại cụ thể để làm căn cứ bồi thường.

Nếu không thể thỏa thuận được về mức độ bồi thường bạn nên yêu cầu cơ quan nhà nước xem xét, giải quyết.

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Nội dung khai sinh gồm những gì?

Trả lời:

a) Họ, chữ đệm, tên và dân tộc của trẻ em được xác định theo thỏa thuận của cha, mẹ theo quy định của pháp luật dân sự và được thể hiện trong Tờ khai đăng ký khai sinh; trường hợp cha, mẹ không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được, thì xác định theo tập quán;

b) Quốc tịch của trẻ em được xác định theo quy định của pháp luật về quốc tịch;

c) Số định danh cá nhân của người được đăng ký khai sinh được cấp khi đăng ký khai sinh. Thủ tục cấp số định danh cá nhân được thực hiện theo quy định của Luật Căn cước công dân và Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Căn cước công dân, trên cơ sở bảo đảm đồng bộ với Luật Hộ tịch và Nghị định này;

d) Ngày, tháng, năm sinh được xác định theo Dương lịch. Nơi sinh, giới tính của trẻ em được xác định theo Giấy chứng sinh do cơ sở y tế có thẩm quyền cấp; trường hợp không có Giấy chứng sinh thì xác định theo giấy tờ thay Giấy chứng sinh theo quy định tại Khoản 1 Điều 16 của Luật Hộ tịch.

Đối với trẻ em sinh tại cơ sở y tế thì nơi sinh phải ghi rõ tên của cơ sở y tế và tên đơn vị hành chính cấp xã, huyện, tỉnh nơi có cơ sở y tế đó; trường hợp trẻ em sinh ngoài cơ sở y tế thì ghi rõ tên đơn vị hành chính cấp xã, huyện, tỉnh nơi trẻ em sinh ra.

đ) Quê quán của người được đăng ký khai sinh được xác định theo quy định tại Khoản 8 Điều 4 của Luật Hộ tịch.

Câu hỏi: Nội dung đăng ký xác nhận vào Sổ hộ tịch?

Trả lời:

1. Xác nhận vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch:

a) Khai sinh;

b) Kết hôn;

c) Giám hộ;

d) Nhận cha, mẹ, con;

đ) Thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch;

e) Khai tử.

Câu hỏi: Thẩm quyền đăng ký hộ tịch cấp xã?

Trả lời:

1. Ủy ban nhân dân cấp xã đăng ký hộ tịch trong các trường hợp sau:

a) Đăng ký sự kiện hộ tịch quy định tại các điểm a, b, c, d và e khoản 1 Điều 3 của Luật này cho công dân Việt Nam cư trú ở trong nước;

b) Đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch cho người chưa đủ 14 tuổi; bổ sung thông tin hộ tịch cho công dân Việt Nam cư trú ở trong nước;

c) Thực hiện các việc hộ tịch theo quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 3 của Luật này;

d) Đăng ký khai sinh cho trẻ em sinh ra tại Việt Nam có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam thường trú tại khu vực biên giới, còn người kia là công dân của nước láng giềng thường trú tại khu vực biên giới với Việt Nam; kết hôn, nhận cha, mẹ, con của công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng thường trú ở khu vực biên giới với Việt Nam; khai tử cho người nước ngoài cư trú ổn định lâu dài tại khu vực biên giới của Việt Nam.

Quyết Định Nghĩa Là Gì / 2023

Tại Sao Việc Xác Định Động Cơ Vào Đảng Đúng Đắn Được Đặt Lên Hàng Đầu Và Có ý Nghĩa Quyết Định, ý Nghĩa Quyết Định 1/500, ý Nghĩa Của Quyết Định Đầu Tư Dài Hạn, Quyết Định Nghĩa Là Gì, ý Nghĩa Của Quyết Định, ý Nghĩa Của Quyết Định Quản Lý, ý Nghĩa Của Quyết Định Bổ Nhiệm, Quyết Định Nghĩa Vụ Quân Sự, Quyết Định Nghĩa Tiếng Anh Là Gì, ý Nghĩa Của Quyết Định Hành Chính, Quyết Định Nghĩa Vụ Quân Sự 2020, ý Nghĩa Của Quyết Định Hình Phạt, Nghị Quyết Về Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Nghị Quyết Số 11-nq/tw Về Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, Định Nghĩa âm Tiết Và Định Nghĩa Hình Vị, Định Nghĩa Và ý Nghĩa Của Đạo Hàm Tiết 2, Định Nghĩa Nhân Nghĩa, Quyết Định 1319 Năm 2015 Quy Định Về Quy Trình Tiếp Nhận Giải Quyết Tố Giác, Tin Báo Tội Phạm Và Kiế, Quyết Định 1319 Năm 2015 Quy Định Về Quy Trình Tiếp Nhận Giải Quyết Tố Giác, Tin Báo Tội Phạm Và Kiế, Mẫu Số 45-ds Quyết Định Đình Chỉ Giải Quyết Vụ án Dân Sự (dành Cho Thẩm Phán), Định Nghĩa 4 Kiểu Dinh Dưỡng ở Vi Sinh Vật, Quyết Định Hủy Bỏ Quyết Định Không Khởi Tố Vụ An Hình Sự, Định Nghĩa Xã Hội Chủ Nghĩa, Định Nghĩa Và ý Nghĩa Đạo Hàm, Định Nghĩa Và ý Nghĩa Của Đạo Hàm, Từ Quyết Nghị Nghĩa Là Gì, Từ Quyết Nghị Có Nghĩa Là Gì, Nghị Quyết Có Nghĩa Là Gì, Nghị Quyết Có ý Nghĩa Gì, ý Nghĩa Nghị Quyết 35, ý Nghĩa Nghị Quyết, ý Nghĩa Nghị Quyết 15, ý Nghĩa Nghị Quyết 18, ý Nghĩa Nghị Quyết 26, ý Nghĩa Nghị Quyết 36, ý Nghĩa Nghị Quyết 27, Nghị Quyết 9 Chống Chủ Nghĩa Xét Lại, ý Nghĩa Nghị Quyết Trung ương 7, ý Nghĩa Của Nghị Quyết Trung ương 15, ý Nghĩa Nghị Quyết Trung ương 15, ý Nghĩa Nghị Quyết Trung ương 9, ý Nghĩa Nghị Quyết Trung ương 8, ý Nghĩa Nghị Quyết Trung ương Lần Thứ 15, ý Nghĩa Nghị Quyết Trung ương 4, ý Nghĩa Nghị Quyết Trung ương 7 Khóa 12, ý Nghĩa Nghị Quyết Trung ương 9 Khóa 11, Mẫu Nghị Quyết Di Chuyển Mồ Mả Nhỏ Lẻ Về Nghĩa Trang Tập Trung, ý Nghĩa Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 12, ý Nghĩa Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 12, ý Nghĩa Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa 8, Nghị Quyết Nào Của Đảng Có ý Nghĩa Lịch Sử To Lớn Đã Mở Đường Cho Cách M, Định Nghĩa Ròng Rọc Cố Định, Định Nghĩa 420, Định Nghĩa Đạo Hàm, Định Nghĩa Đạo Đức, Định Nghĩa Đ Là Gì, Định Nghĩa Đàn ông, Định Nghĩa Đá Cấp 4, Định Nghĩa Đá 4×6, Định Nghĩa ôm, Định Nghĩa Tài Sản, Định Nghĩa Đất 03, Định Nghĩa Sự Vật, Định Nghĩa Máy 99, Từ Định Nghĩa Là Gì, ý Nghĩa Quy Định 55-qĐ/tw, Định Nghĩa Ons, Định Nghĩa ơn, Định Nghĩa Đ**, ăn Định Nghĩa, Định Nghĩa T-ara, Định Nghĩa 68, Định Nghĩa Dự án Đầu Tư, Định Nghĩa Xéo Xắt, Nhà Cấp 4 Định Nghĩa, Định Nghĩa Oxi Hóa, ô Tô Định Nghĩa, Định Nghĩa Xe Mô Tô, Định Nghĩa Tia Lớp 6, ổn Định Nghĩa Là Gì, Định Nghĩa Yêu Cầu, Định Nghĩa Của 8/3, ổn Định Nghĩa, Định Nghĩa Cảm ứng Từ, Định Nghĩa Cảm ơn Và Xin Lỗi, Định Nghĩa Nhà Cấp 4, Định Nghĩa Con Số 0, Định Nghĩa Thờ ơ, 8/3 Định Nghĩa, Định Nghĩa Dự án, Định Nghĩa Oda, Định Nghĩa ô Tô Con, Định Nghĩa N*, Định Nghĩa ô Tô, Định Nghĩa Xe Tải, Định Nghĩa 1/500, Có Định Nghĩa, Định Nghĩa 1/3, Định Nghĩa Cảm ơn,

Tại Sao Việc Xác Định Động Cơ Vào Đảng Đúng Đắn Được Đặt Lên Hàng Đầu Và Có ý Nghĩa Quyết Định, ý Nghĩa Quyết Định 1/500, ý Nghĩa Của Quyết Định Đầu Tư Dài Hạn, Quyết Định Nghĩa Là Gì, ý Nghĩa Của Quyết Định, ý Nghĩa Của Quyết Định Quản Lý, ý Nghĩa Của Quyết Định Bổ Nhiệm, Quyết Định Nghĩa Vụ Quân Sự, Quyết Định Nghĩa Tiếng Anh Là Gì, ý Nghĩa Của Quyết Định Hành Chính, Quyết Định Nghĩa Vụ Quân Sự 2020, ý Nghĩa Của Quyết Định Hình Phạt, Nghị Quyết Về Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Nghị Quyết Số 11-nq/tw Về Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, Định Nghĩa âm Tiết Và Định Nghĩa Hình Vị, Định Nghĩa Và ý Nghĩa Của Đạo Hàm Tiết 2, Định Nghĩa Nhân Nghĩa, Quyết Định 1319 Năm 2015 Quy Định Về Quy Trình Tiếp Nhận Giải Quyết Tố Giác, Tin Báo Tội Phạm Và Kiế, Quyết Định 1319 Năm 2015 Quy Định Về Quy Trình Tiếp Nhận Giải Quyết Tố Giác, Tin Báo Tội Phạm Và Kiế, Mẫu Số 45-ds Quyết Định Đình Chỉ Giải Quyết Vụ án Dân Sự (dành Cho Thẩm Phán), Định Nghĩa 4 Kiểu Dinh Dưỡng ở Vi Sinh Vật, Quyết Định Hủy Bỏ Quyết Định Không Khởi Tố Vụ An Hình Sự, Định Nghĩa Xã Hội Chủ Nghĩa, Định Nghĩa Và ý Nghĩa Đạo Hàm, Định Nghĩa Và ý Nghĩa Của Đạo Hàm, Từ Quyết Nghị Nghĩa Là Gì, Từ Quyết Nghị Có Nghĩa Là Gì, Nghị Quyết Có Nghĩa Là Gì, Nghị Quyết Có ý Nghĩa Gì, ý Nghĩa Nghị Quyết 35, ý Nghĩa Nghị Quyết, ý Nghĩa Nghị Quyết 15, ý Nghĩa Nghị Quyết 18, ý Nghĩa Nghị Quyết 26, ý Nghĩa Nghị Quyết 36, ý Nghĩa Nghị Quyết 27, Nghị Quyết 9 Chống Chủ Nghĩa Xét Lại, ý Nghĩa Nghị Quyết Trung ương 7, ý Nghĩa Của Nghị Quyết Trung ương 15, ý Nghĩa Nghị Quyết Trung ương 15, ý Nghĩa Nghị Quyết Trung ương 9, ý Nghĩa Nghị Quyết Trung ương 8, ý Nghĩa Nghị Quyết Trung ương Lần Thứ 15, ý Nghĩa Nghị Quyết Trung ương 4, ý Nghĩa Nghị Quyết Trung ương 7 Khóa 12, ý Nghĩa Nghị Quyết Trung ương 9 Khóa 11, Mẫu Nghị Quyết Di Chuyển Mồ Mả Nhỏ Lẻ Về Nghĩa Trang Tập Trung, ý Nghĩa Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 12, ý Nghĩa Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 12,