Xem Nhiều 12/2022 #️ Trẻ Sơ Sinh Và Những Đặc Điểm Chung Nhất Ở Trẻ Sơ Sinh / 2023 # Top 18 Trend | Tvzoneplus.com

Xem Nhiều 12/2022 # Trẻ Sơ Sinh Và Những Đặc Điểm Chung Nhất Ở Trẻ Sơ Sinh / 2023 # Top 18 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Trẻ Sơ Sinh Và Những Đặc Điểm Chung Nhất Ở Trẻ Sơ Sinh / 2023 mới nhất trên website Tvzoneplus.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Trẻ sơ sinh

Định nghĩa trẻ sơ sinh hay con mới đẻ là thuật ngữ chỉ về một trẻ em được sinh ra trong giai đoạn một giờ, ngày, hoặc một vài tuần nhất định từ khi lọt lòng. Trẻ sơ sinh (từ tiếng La tinh: Neonatus đề cập đến một trẻ sơ sinh trong 28 ngày đầu tiên sau khi sinh.

Thuật ngữ sơ sinh bao gồm trẻ sơ sinh thiếu tháng tuổi, và trẻ sơ sinh đủ tháng và thuật ngữ này có nguồn gốc từ tiếng Latin là từ infans có nghĩa là không thể nói hoặc không nói nên lời. Nó thường được dùng để chỉ trẻ em trong độ tuổi từ 1 tháng và 12 tháng.

Trẻ sơ sinh là trẻ được sinh ra trong giai đoạn 1 giờ, 1 ngày…

Đặc điểm của trẻ sơ sinh

Một trẻ sơ sinh có vai và hông hẹp, bụng nhô ra một chút, và cánh tay và chân tương đối ngắn. Trọng lượng sơ sinh trung bình của một trẻ sơ sinh đủ tháng khoảng 3,2 kg, và thường trong khoảng 2,7 – 4,6 kg. Tổng chiều dài cơ thể trung bình là 35,6-50,8 cm, mặc dù sớm trẻ sơ sinh có thể nhỏ hơn nhiều.

Một trẻ sơ sinh có cái đầu là rất lớn so với tỷ lệ cho cơ thể và hộp sọ lớn so với khuôn mặt trẻ sơ sinh có thể được sinh ra với đầy đủ đầu tóc giống như những người lớn khác, đặc biệt là trẻ sơ sinh da trắng có thể có mái tóc rất tốt hoặc thậm chí có thể bị hói.

Ngay lập tức sau khi sinh, da của trẻ sơ sinh thường xám màu xanh sẫm màu. Khi đẻ ra thì trẻ sơ sinh bị ướt, phủ trong các vệt máu, và phủ một chất màu trắng dây rốn của trẻ sơ sinh hơi xanh lẫn màu trắng. Sau khi sinh, dây rốn thường được cắt. Cuống rốn sẽ khô rồi teo lại. Trẻ sơ sinh có tầm nhìn không đáng kể, có thể tập trung trên các đối tượng chỉ có khoảng 45 cm trực tiếp ở phía trước của khuôn mặt của nó.

TRẻ sơ sinh có vai, hông hẹp, chân tay ngắn

Trẻ sơ sinh được đẻ ra thì cất tiếng khóc chào đời như một hình thức thông tin liên lạc bản năng cơ bản. Một trẻ sơ sinh khóc có thể phải cố gắng để thể hiện nhiều cảm xúc khác nhau bao gồm cả đói, khó chịu, bị kích thích quá chán nản muốn một cái gì đó, hoặc cô đơn.

Nuôi con bằng sữa mẹ là phương pháp quan trọng về sức khỏe trẻ sơ sinh. Khi trẻ sơ sinh chào đời, cần cho bú ngay sữa non của người mẹ để chuyển tiếp các dưỡng chất quan trọng, bổ dưỡng và cần thiết cho trẻ, đặc biệt là để trẻ hấp thu kháng thể chống lại bệnh tật.

Bài Giảng Đặc Điểm Trẻ Sơ Sinh / 2023

Published on

5. Bào thai: tế bào thận to, vuông, mao mạch ít, chức năng lọc kém ◊ mỏng dần, dẹp, mao mạch tăng và chức năng lọc mới đáp ứng yêu cầu Sơ sinh: chức năng cầu thận kém, giữ lại hầu hết các điện giải, kể cả các chất độc, nước tiểu gồm toàn nước loãng → không dùng các loại thuốc chứa morphin, các kháng sinh độc… Nếu có dùng, nên dùng liều phù hợp Tỷ trọng nước tiểu giảm dần với tuổi: 1.003/trẻ lớn, 1.002/đủ tháng và 1.0015/trẻ sinh non Độ thẩm thấu nước tiểu: 450-650 mOsm/l Thận giữ điện giải →kali máu thường cao và rất ít gặp hạ kali; giữ natri →tăng natri giả tạo: – Sau kiềm hóa máu bằng bicarbonat natri – Sau thay sữa mẹ bằng sữa bò → giữ nước & lên cân (natri/ sữa bò cao gấp 4 lần). Giữ H+ → rất dễ bị toan máu/suy hô hấp, mất nước, suy dinh dưỡng v..v… Sau ngày thứ 3: thải nước rất dễ dàng (50%)→ không ứ nước nếu dùng nhiều nước Đào thải nước tiểu: Bình thường, trẻ tiểu lần đầu ngay tại phòng sanh. Đại đa số trẻ tiểu trong vòng 24 giờ đầu. Nếu sau thời điểm này mà trẻ vẫn chưa tiểu, cần chú ý tìm xem có cầu bàng quang không và phải tìm phát hiện dị tật đường tiết niệu. Số lượng nước tiểu tăng dần theo ngày tuổi của trẻ. Trẻ suy dinh dưỡng hoặc già tháng tiểu ít hơn bình thường vì thiếu nước. 9. Nội tiết : * Sinh dục: Dù trai hay gái, trẻ có ít nhiều có nội tố nữ, folliculin, của mẹ truyền qua nhau thai → tuyến vú của trẻ có hiện tượng sưng to, và các em gái có thế có kinh nguyệt trong 10-12 ngày đầu * Tuyến yên: hoạt động ngay từ những phút đầu giúp trẻ thích nghi tốt với môi trường ngoài, ngay cả trẻ sinh non cũng thích nghi tốt * Tuyến giáp: hoạt động từ ngày thứ 3 của bào thai, thyroxin có từ tháng thứ 6-8 thai kỳ. – Khi ra đời: nếu nhiệt độ bên ngoài quá thấp → tuyến giáp tiết nhiều thyroxin * Tuyến phó giáp: điều hòa lượng Ca và P trong máu, từ các dự trữ ở xương. Trẻ sinh non thường xuyên bị đe doạ thiếu Ca máu → rất dễ bị suy tuyến phó giáp * Tuyến tụy: hoạt động từ những giờ đầu sau sinh. chất tiết chủ yếu là Insulin. Men tiêu hoá được tiết muộn hơn – Sơ sinh rất dễ bị hạ đường huyết: thiếu cung cấp và tăng sử dụng và tăng lượng Insulin trong máu * Thượng thận: kích thước tương đối to và hoạt động sớm, cả bộ phận vỏ và tủy – Glucocorticoid gia tăng tổng hợp protid và giúp trẻ sinh non tăng cân nhanh * Nhau thai: từ tháng thứ tư của bào thai. – Progesteron và prolactin được nhau thai tiết ra giúp thai nhi chuyển hóa các chất đạm, mỡ, đường, cũng như các chất TSH của tuyến yên, các chất của nhau thai, huy động dự trữ mỡ và tiết kiệm sự tiêu hóa các chất đạm, đường 10. Biến động về sinh dục: Trong thời kỳ bào thai, sơ sinh chịu ảnh hưởng của nội tiết của mẹ nên sau sanh có thể có những biểu hiện Hiện tượng cương vú, thấy cả ở bé trai lẫn bé gái, vú căng phồng, nặn có ít sữa non. Tinh hoàn có nước ở bé trai. Tình trạng này sẽ hết vào khoảng tháng thứ hai – tháng thứ ba sau sanh, không cần điều trị. Sung huyết và phì đại môi lớn, âm hộ ở bé gái. Một số ít trường hợp có thể có ra ít huyết ở âm đạo. Trường hợp này cần phân biệt với xuất huyết đường tiêu hóa để xử trí kịp thời. 11. Miễn dịch : Sơ sinh có sức đề kháng kém – Da mỏng, độ toan thấp, ít có tác dụng diệt khuẩn – Niêm mạc dễ xây xát, dễ bị viêm loét.

6. – Miễn dịch tế bào: có từ trong bào thai, chỉ có tác dụng sau sinh, rất kém nếu trẻ sinh thiếu tháng * Phản ứng tăng bạch cầu khi tiếp xúc với tác nhân gây bệnh thực bào lại rất kém: sau 24 tháng mới hoàn chỉnh – Miễn dịch huyết thanh: bào thai tạo được các IgG và IgM từ tháng thứ 6 và IgA từ tháng thứ 8, không đáng kể. (sau 12 tháng: IgG # 60%, IgM # 80%, IgA # 20% so người lớn) Trẻ sơ sinh chủ yếu sử dụng IgG của mẹ (qua nhau) giảm dần và mất hẳn lúc 6 tháng tuổi. IgG có tác dụng chủ yếu đối với Gram (+). Đối với vi trùng Gram (-) phải cần đến IgM → vi trùng Gram (-) thường gây nhiễm nặng và tử vong cao Do trẻ sơ sinh sản xuất các globulin MD kém → bắt đầu tiêm phòng từ 2 tháng tuổi, trừ một số bệnh như lao cần tiêm phòng ngay sau sinh vì mẹ không truyền kháng thể cho con, mà bệnh thì rất nguy hiểm cho lứa tuổi này 12. Điều hòa thân nhiệt : Khi ra đời, trẻ rất dễ bị mất nhiệt, nhưng khả năng tạo nhiệt lại kém→ dễ bị rối loạn điều hoà thân nhiệt Chuyển hóa đạm, mỡ, đường→ chống lạnh Dự trữ các chất này rất ít: chỉ đủ cho 2 – 3 giờ đầu sau sinh→ bảo đảm To tối ưu ở môi trường: 28 – 300C/trẻ đủ tháng và 30 – 330C/trẻ sinh non Nhu cầu năng lượng (tính theo Kcalo/kg) tăng dần theo tuổi và theo cân nặng, được phân phối cho các hoạt động cần thiết như: chuyển hóa cơ bản, vận động, tiêu hóa và tăng trọng Năng lượng trong những ngày đầu: chủ yếu từ đường. Thiếu →huy động từ các dự trữ mỡ vùng bả vai, trung thất, quanh thận… và cuối cùng: từ dự trữ đạm → Cho trẻ ăn sớm, ngay sau sinh ở trẻ đủ tháng và 2-3 giờ ở trẻ sinh non dưới 1500g. Không ăn được ◊ nuôi qua đường tĩnh mạch 13. Hiện tượng vàng da: Những ngày sau sanh, hồng cầu của trẻ sơ sinh bị vỡ, giải phóng ra các sắc tố mật gây nên hiện tượng vàng da sinh lý. Ở trẻ đủ tháng, vàng da bắt đầu xảy ra ngày thứ hai – thứ ba sau sanh và chấm dứt khoảng ngày thứ tám – thứ mười. Nước tiểu trẻ vàng chứng tỏ có sự chuyển hóa bilirubin theo nước tiểu ra ngoài. Ở trẻ non tháng, hiện tượng vàng da kéo dài hơn do gan chưa trưởng thành để tạo ra men glucuronyl transferase. Trong trường hợp vàng da xuất hiện sớm trong vòng 36 giờ đầu sau sanh, có thể do nhiễm trùng sơ sinh, bất đồng nhóm máu Rhésus hay nhóm máu ABO, thiếu hụt men G6PD (gluco- 6 phosphat déhydrogenase) bẩm sinh. IV. CÁCH KHÁM MỘT TRẺ SƠ SINH ĐỦ THÁNG: 1. Kiểm tra và xử trí ngay các dấu hiệu cấp cứu: dấu hiệu cấp cứu Xử trí ngay lập tức Ngưng thở, ngưng tim hoặc Hồi sức ngưng tim, ngưng thở Thở hước hoặc Thở chậm < 20 lần/ph, tím tái Cung cấp oxy Trẻ đang co giật Thông đường thở, Oxy, Dextrostix, Phenobarbital 2. Tổng trạng : bé hồng hào, vận động tốt tay chân, khóc to, phản xạ tốt. 3. Khám các cơ quan:

9.  Da tái: Thiếu máu? Ngạt? Sốc? PDA?  Da tím:  Tìm tử ban điểm:  Bầm máu chổ chích: Đông máu nội mạch lan tỏa (DIC)  Da nổi bông: Hạ thân nhiệt? Giảm thể tích? Nhiễm trùng huyết? 3.7. Kiểm tra vấn đề khác:  Kiểm tra dị tật: * Dị tật bẩm sinh nhẹ: sứt môi, chẻ vòm, chân khoèo, thừa hoặc thiếu ngón, bướu máu. * Dị tật bẩm sinh nặng: thoát vị tủy màng tủy, thoát vị rốn, hở thành bụng, không hậu môn * Tai đóng thấp thường kèm dị tật bẩm sinh nặng. * Trật khớp háng bẩm sinh: Nghiệm pháp Ortolani để xác định chỏm xương đùi có bị trật ra sau không. Khớp háng được gập 90 độ, ngón hai và ba ấn lên đầu xương đùi, bàn tay ấn lên thân xương đùi trong khi dạng khớp háng. Nghiệm pháp dương tính với tiếng lách cách khi đầu xương đùi trượt trên bờ ổ khớp và bị trật khớp.  Quan sát các cử động: có bình thường và cân xứng không ? Hình 4: Liệt mặt bên phải (A). Liệt thần kinh cánh tay (B). Tư thế bình thường của trẻ sanh ngôi mông (C)  Tìm các dấu sưng nề, bầm tím do sang chấn sản khoa: V. CHĂM SÓC TRẺ SƠ SINH THIẾT YẾU:

10. 1. Đảm bảo vệ sinh để ngừa Nhiễm trùng : a/ Sanh sạch:  Phòng sanh, bàn sanh, bàn sơ sinh sạch.  Bàn tay người đỡ đẻ: Rửa tay trước khi đỡ sanh, chăm sóc trẻ  Vùng tầng sinh môn: Rửa bằng nước sạch, xà bông  Dụng cụ hồi sức sơ sinh: sạch, khô  Dụng cụ sanh: vô trùng b/ Săn sóc rốn:  Rốn: Con đường chính dẫn đến Nhiễm trùng sơ sinh.  Chăm sóc rốn mỗi ngày, tháo kẹp rốn khi rốn khô, không nên băng kín rốn, không đắp gì lên cuống rốn  Bộ chăm sóc rốn vô trùng  Dung dịch sát trùng rốn: Cồn 70° , Cồn Iod 2% c/ Săn sóc mắt, da:  Bệnh lây truyền qua đường sinh dục: Viêm kết mạc do Neisseria gonorrhea, Chlamydia trachomatis  Nhỏ mắt = Nitrate bạc 1%, mỡ Tetracyclin 1%, mỡ Erythromycin 0,5%.  Tắm trẻ, Chăm sóc da 2. Thực hiện tốt hồi sức tại phòng sanh:  Trẻ không khóc, không thở hoặc thở nấc/ 30 giây sau sanh & sau khi lau khô: hồi sức ngay: Hút miệng mũi, thông khí áp lực dương  Cần quyết định hồi sức trong 1 ph đầu sau sanh, trước khi đánh giá Apgar  HSSS cơ bản: Giúp 2/3 trẻ sanh ngạt tự thở được 3. Dinh dưỡng đúng  Nuôi con bằng SM sớm, hoàn toàn  Cử bú đầu /30ph-1 giờ sau sanh  Cho bú theo nhu cầu, tư thế ngậm bắt vú đúng  Không dùng bình sữa, núm vú cao su.  Không dùng các thức uống khác. 4. Phòng & điều trị hạ thân nhiệt  Chổ sanh ấm  Lau khô trẻ với khăn ấm  Tiếp xúc da qua da, mặc áo ấm  Tắm muộn

12. Quan sát một trẻ non tháng, ta thấy trẻ thở bằng họng, phình bụng lên khi hít vào. Nhịp thở có chu kỳ, có lúc thở nhanh gấp, sau đó chậm dần rồi ngưng khoảng vài giây. Cơn ngưng thở có thể kèm tím tái hoặc không. Ngưng thở dưới 15 giây không được xem như bệnh lý. Ngược lại, nếu cơn ngưng thở kéo dài trên 20 giây hoặc kèm theo nhịp tim chậm sẽ dễ gây những ảnh hưởng thần kinh, cần được theo dõi sát và xử trí ngay. Bệnh lý hệ hô hấp của trẻ non tháng hay gặp là bệnh màng trong do nhu mô phổi không thể dãn nở đủ để trao đổi không khí. 2. Chức năng điều hoà thân nhiệt: Trẻ non tháng dễ bị hạ thân nhiệt vì: (1) Trung tâm điều hòa thân nhiệt ở não còn non yếu. (2) Khi bị nhiễm lạnh, trẻ không thể run cơ để sinh nhiệt chống lại lạnh. Trẻ càng non tháng, trung tâm điều hòa thân nhiệt càng chưa hoàn chỉnh. Giảm vận động và trương lực cơ yếu làm trẻ khó sản sinh ra nhiệt. Diện tích da lớn so với cân nặng trẻ, kèm lớp mỡ dưới da kém phát triển nên trẻ rất dễ mất nhiệt. Tích lũy mỡ tăng ở giai đoạn cuối của thai kỳ nên lượng mỡ tăng mà vẫn không đủ dự trữ ở trẻ non tháng. Nếu nhiệt độ trung tâm của trẻ xuống dưới 35,5°C, sẽ gây nên hàng loạt biến chứng ở hệ hô hấp, hệ thần kinh và gây xuất huyết não. Vì vậy, việc theo dõi, ủ ấm, lau khô trẻ ngay sau sanh là một việc làm rất quan trọng đối với trẻ non tháng. Nếu tiết trời lạnh, nhiệt độ bên trong phòng phải được giữ tối thiểu là 24°-26°C. Trẻ mới sinh ra phải được ủ ấm và đặt trên bàn có đèn sưởi. Nếu đặt trẻ non tháng trong lồng kính thì nhiệt độ trong lồng phải đạt được 34°-35°C lúc đầu. 3. Chức năng tuần hoàn: Các mao mạch mỏng manh dễ vỡ. Các yếu tố đông máu thiếu hụt và giảm ở trẻ non tháng. Lượng vitamin K và prothrombin thấp nên trẻ non tháng dễ bị xuất huyết. ECG: trục ưu thế P/ trẻ non tháng Lượng máu/trẻ : có thể 85ml/kg. 4. Chức năng gan và tiêu hóa Enzym để chuyển hóa bilirubin gián tiếp thành bilirubin trực tiếp bị thiếu hụt và kém hoạt tính nên trẻ non tháng dễ bị vàng da nặng và kéo dài. Vì vậy, chúng cần được theo dõi thường xuyên lượng bilirubin tự do trong huyết tương. Sử dụng phương pháp rọi đèn sớm, truyền tĩnh mạch dung dịch albumin sẽ làm giảm được tình trạng vàng da, giảm được tỉ lệ phải thay máu cho trẻ sơ sinh. Thể tích dạ dày nhỏ, dạ dày nằm ngang, các men tiêu hóa còn thiếu hụt đòi hỏi trẻ non tháng phải được cho ăn từng ít một và ăn nhiều lần. Độ acid trong dạ dày kém, thiếu men tiêu hóa và hấp thu không hết thức ăn – dù là sữa mẹ – nên trẻ dễ bị nôn ói, chướng bụng và rối loạn tiêu hóa Do lượng glycogen dự trữ trong gan giảm nên trẻ non tháng dễ bị hạ đường huyết. 5. Đặc điểm về chuyển hóa các chất : Trẻ sơ sinh, nhất là sinh non: rất dễ phù/những giờ đầu sau sinh (ứ nước), sụt nhiều cân sinh lý/những ngày sau (do thận thải nước tốt hơn) – Ca và P: mẹ cho con chủ yếu/2 tháng cuối thai kỳ. → trẻ sinh trước tháng thứ 8: dễ bị thiếu Ca và P, càng non, càng thiếu nhiều – Fe: mẹ cung cấp trong 2 tháng cuối thai kỳ, + Càng sinh non trẻ càng dễ bị thiếu Fe. + Dự trữ sắt: #106mg%/non tháng, đủ cho trẻ sanh non không bị thiếu máu/ 1 → lưu ý thiếu máu sau 1 tháng tuổi/trẻ sinh non (điều trị bằng truyền máu) và viên sắt uống chỉ có khả năng hấp thụ/ruột sau 2 tháng tuổi. 6. Hệ thống miễn dịch:

13. Hệ thống miễn dịch tế bào còn rất yếu. Khả năng thực bào, diệt khuẩn đều chưa hoàn thiện. Mặt khác lượng globulin miễn dịch dịch thể (IgG) từ mẹ qua thai còn rất ít nếu là non tháng. Hậu quả là trẻ non tháng dễ bị nhiễm trùng nặng dẫn đến tử vong. III. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA TRẺ SƠ SINH NON THÁNG: 1. Hình thể bên ngoài: Da càng non tháng càng mọng nhiều nước, đỏ mọng, trông thấy các mạch máu bên dưới. Dưới 30 tuần : da đỏ mọng, nhiều mạch máu, bóng 30- 32 tuần : da mỏng, ít mạch máu hơn 32 – 36 tuần : da dầy hơn, ít bóng, có lớp mỡ dưới da. Lông tơ có nhiều khi tuổi thai dưới 36 tuần và giảm dần khi tuổi thai lớn hơn. Chất gây nhiều và khuếch tán ở trẻ non tháng dưới 34 tuần và giảm dần khi tuổi thai càng lớn. Sụn vành tai Dưới 30 tuần : trẻ còn quá non chưa có độ cong của tai. Nếu gập vành tai lại, vành tai sẽ giữ ở tư thế đó lâu. 30 – 33 tuần : nếu gấp lại, vành tai sẽ từ từ trở lại vị trí cũ. 34 – 36 tuần : vành tai trở lại vị trí cũ nhanh. Trên 37 tuần : sụn vành tai trở lại vị trí cũ rất nhanh. Hộp sọ của trẻ non tháng có xương sọ ọp ẹp, dễ bị biến dạng nên khi sanh cần được can thiệp bằng forceps để bảo vệ hộp sọ. Mầm vú (có thể sờ nắn bằng hai đầu ngón tay cái và trỏ) 30 – 32 tuần : không sờ thấy mầm vú. 32 – 36 tuần : kích thước mầm vú từ 2mm – 4 mm. Trên 37 tuần : mầm vú 7mm – 10mm. Bộ phận sinh dục ngoài Ở trẻ trai, tinh hoàn bắt đầu di chuyển xuống túi bìu khi tuổi thai ở khoảng 33-34 tuần. Nếu trẻ sanh sớm hơn, tinh hoàn còn ở trong ổ bụng hoặc trên ống bẹn. Túi bìu chưa có nếp nhăn, căng bóng và dễ phù nề theo tư thế nằm của trẻ. Ở trẻ gái, môi lớn chưa che phủ môi nhỏ và âm vật. Trẻ càng non, âm vật càng lộ rõ. Nếp nhăn ở gan bàn chân Dưới 36 tuần : nếp nhăn mờ và chỉ có ở 1/3 trước gan bàn chân. 37 – 38 tuần : nếp nhăn có đến 2/3 trước gan bàn chân. 39 – 41 tuần : nếp nhăn rõ và có nhiều ở cả gan bàn chân. 2. Dấu chứng thần kinh: Những dấu chứng thần kinh sẽ bổ sung các đặc điểm về hình thể bên ngoài để ước tính tuổi thai. Tính cường cơ Tư thế, trẻ càng non, trương lực cơ càng giảm. Trẻ nằm yên, ít cử động. Từ tuần 32, hai chi dưới mới ở tư thế co và từ tuần 34 – 35 hai tay mới co. Từ trên 37 tuần cho đến đủ tháng, tay chân co nhiều, chứng tỏ tính cường cơ biểu hiện rõ. Thử nghiệm gót-tai Trẻ càng non tháng góc này càng dãn (150°). Ở trẻ đủ tháng, góc này là 90°. Góc khoeo ở trẻ dưới 30 tuần đo được 150° và là 90° ở trẻ đủ tháng. Góc bàn chân-cẳng chân ở trẻ non tháng đo được 40°-50° và 10°-0° ở trẻ đủ tháng. Các phản xạ thần kinh nguyên thủy được biểu hiện rất yếu hoặc chưa biểu hiện được ở trẻ non tháng. Cân nặng và tuổi thai tương ứng (J.B. Jolly, 1985)

14. Tuổi thai (tuần) Cân nặng Chiều dài Vòng đầu 25 – 26 27 – 28 29 – 30 31 – 32 33 – 34 35 – 36 37 – 38 39 – 41 870g – 950g 1.050g – 1.150g 1.250g – 1.400g 1.550g – 1.700g 1.900g – 2.100g 2.300g – 2.500g 2.900g – 3.100g 3.100g – 3.300g 34cm – 35cm 36cm – 37cm 38cm – 39cm 41cm – 42cm 43cm – 45cm 46cm – 47cm 48cm – 49cm 49cm – 50cm 23cm – 24cm 25cm – 26cm 17cm – 28cm 29cm – 30cm 30cm – 31cm 32,2cm – 32,8cm 33cm – 33,5cm 34cm – 34,8cm IV. BỆNH LÝ ĐẶC BIỆT Ở TRẺ NON THÁNG: Hệ cơ quan chưa trưởng thành Vấn đề gặp phải – Nguy cơ Hô hấp – Ngạt chu sinh: do đáp ứng kém với hô hấp ngoài tử cung. – Bệnh màng trong: do thiếu surfactant – Cơn ngưng thở: do cơ chế kiểm soát nhịp thở chưa trưởng thành – Bệnh phổi mãn. Thần kinh Ngạt chu sinh, xuất huyết nội so, bệnh chất trắng quanh não thất, Não non tháng Tim mạch – Hạ huyết áp: do giảm thể tích, rối loạn chức năng tim mạch, dãn mạch do nhiễm trùng, thiếu hormone thượng thận, đáp ứng tiết catecholamines chưa hoàn chỉnh – Còn ống động mạch. Huyết học – Thiếu máu Dinh dưỡng – Hít sặc, Trào ngược dạ dày thực quản, Liệt ruột cơ năng – Viêm ruột hoại tử – Khó nuôi dưỡng, châm tăng cân Chuyển hóa Rối loạn chuyển hóa đường và can-xi, tăng bilirubin gián tiếp Thận Mất nước, dư dịch, rối loạn điện giải kiềm toan, dễ ngộ độc thuốc: do tốc độ lọc cầu thận thấp, không khả năng điều hòa nước, điện giải, kiềm toan. Điều hòa thân nhiệt Dễ bị hạ thân nhiệt hoặc tăng thân nhiệt Miễn dịch Nhiễm trùng huyết, Viêm phổi, Viêm màng não, viêm khớp, viêm tai giữa Nội tiết Thiếu hormone thượng thận, đáp ứng tiết catecholamines chưa hoàn chỉnh, … Mắt, Tai Bệnh lý võng mạc (trẻ < 32tuần hoặc / < 1500g), điếc, … V. CHĂM SÓC VÀ NUÔI DƯỠNG TRẺ SƠ SINH NON THÁNG. 1.1. Nguyên tắc chăm sóc trẻ sanh non / nhẹ cân: – Đảm bảo trẻ được nuôi bằng sữa mẹ. – Đảm bảo chăm sóc vệ sinh. Tránh gây tổn hại cho trẻ. – Giảm thiểu thời gian cách ly mẹ con. Chăm sóc bằng phương pháp bà mẹ Kangaroo. 1.2. Các biện pháp chăm sóc và ổn định yếu tố nguy cơ:  Xử trí tại phòng sanh: tránh mất nhiệt và hồi sức ngay sau sanh thật tốt. Trẻ sanh non có nguy cơ ngạt chu sinh cao do không thể khởi phát nhịp thở sau sanh. Nếu trẻ có biểu hiện suy hô hấp ngay sau sanh: cho thở oxy & chuyển đến nơi có thể thở NCPAP ngay.

Một Số Đặc Điểm Sinh Lý Và Cách Chăm Sóc Trẻ Sơ Sinh Non Tháng / 2023

Một số đặc điểm sinh lý và cách chăm sóc trẻ sơ sinh non tháng

Theo tổ chức WHO, trẻ sơ sinh non tháng được định nghĩa dựa trên tuổi thai, nếu trẻ sinh trước tuần thứ 37 (tính từ ngày đầu của kỳ kinh cuối). Tuy nhiên trong trường hợp không nhớ ngày kinh cuối có thể dựa vào các dẫn chứng lâm sàng, hình thái bên ngoài và biểu hiện về thần kinh để xác định tương đối chính xác tuổi. Một số đặc điểm sinh lý của trẻ non tháng

Chức năng hô hấp

Chức năng hô hấp của trẻ non tháng còn rất yếu. Trẻ dễ bị suy hô hấp vì – Lồng ngực dễ biến dạng, xương sườn còn mềm, các cơ gian sườn còn yếu. – Phổi chưa dãn nở tốt, các phế nang chưa trưởng thành, trung tâm hô hấp chưa hoàn chỉnh. Bệnh lý hô hấp của trẻ non tháng hay gặp là bệnh màng trong do nhu mô phổi không thể dãn nở đủ để trao đổi không khí.

Chức năng điều hòa thân nhiệt

Trẻ non tháng dễ bị nhiễm lạnh vì: – Trung tâm điều hòa thân nhiệt ở não còn non yếu. – Khi bị nhiễm lạnh, trẻ không thể run cơ thể sinh nhiệt chống lại lạnh. Trẻ càng non tháng, trung tâm điều hòa thân nhiệt càng chưa hoàn chỉnh. Nếu nhiệt độ trung tâm của trẻ xuống dưới 35,5o C sẽ gây nên hàng loạt biến chứng ở hệ hô hấp, hệ thần kinh và gây xuất huyết não.

Chức năng tuần hoàn

Các mao mạch mỏng manh dễ vỡ. Các yếu tố đông máu thiếu hụt và giảm ở trẻ non tháng. Lượng vitamin K và prothrombin thấp nên trẻ non tháng dễ bị xuất huyết.

Chức năng gan và tiêu hóa

Enzym để chuyển hóa bilirubin gián tiếp thành bilirubin trực tiếp bị thiếu hụt và kém hoạt tính nên trẻ non tháng dễ bị vàng da nặng và kéo dài. Thể tích dạ dày nhỏ, dạ dày nằm ngang, các men tiêu hóa còn thiếu hụt đòi hỏi trẻ non tháng phải được cho ăn từng ít một và ăn nhiều lần. Độ acid trong dạ dày kém, thiếu men tiêu hóa và hấp thu không hết thức ăn- dù là sữa mẹ- nên trẻ sễ bị nôn ói, chướng bụng và rối loạn tiêu hóa Do lượng glycogen dự trữ trong gan giảm nên trẻ non tháng dễ bị hạ đường huyết.

Hệ thống miễn dịch

Hệ thống miễn dịch tế bào còn rất yếu. Khả năng thực bào và diệt khuẩn đều chưa hoàn chỉnh. Mặt khác lượng globulin miễn dịch thể từ mẹ qua thai còn rất ít nếu là non tháng. Hậu quả trẻ non tháng dễ bị nhiễm trùng nặng dẫn đến tử vong. Cách chăm sóc trẻ non tháng

Nguyên tắc chăm sóc trẻ non tháng:

– Đảm bảo trẻ được nuôi bằng sữa mẹ. – Đảm bảo chăm sóc vệ sinh. Tránh gây tổn hại cho trẻ. – Giảm thiểu thời gian cách ly mẹ con. Chăm sóc bằng phương pháp bà mẹ Kangaroo- đó là mô phỏng cách của chuột túi mang con trước bụng, cho phép trẻ non tháng được đặt nằm thường xuyên giữa hai vú mẹ. 2.  Các biện pháp chăm sóc và ổn định yếu tố nguy cơ: Xử trí tại phòng sinh của bệnh viện: tránh mất nhiệt và hồi sức ngay sau sinh thật tốt. Trẻ sinh non có nguy cơ ngạt chu sinh cao do không thể khởi phát nhịp thở sau sinh. Nếu trẻ có biểu hiện suy hô hấp ngay sau sinh: cho thở oxy và chuyển đến nơi có thể thở áp lực dương liên tục qua mũi (NCPAP) ngay. Ổn định thân nhiệt: nếu trẻ cần phải chăm sóc đặc biệt hoặc cách ly nên dùng lồng ấp để giảm độ mất nước không nhận biết qua da, tránh những kích thích không cần thiết và tiếng động. Nhiệt độ của bé luôn ở khoảng 37oC là thích hợp nhất. Sử dụng phương pháp bà mẹ Kangaroo để giữ ấm cho các trẻ đã qua giai đoạn bệnh nặng. Phương pháp đòi hỏi người mẹ và trẻ da tiếp xúc da rất hiệu quả, ít tốn kém, được áp dụng trên phạm vi toàn thế giới. Nhờ vào thân nhiệt của người lớn, bé sẽ được ủ ấm thích hợp nhất. Kiểm soát nhiễm trùng: Để giảm thiểu nguy cơ nhiễm trùng ở trẻ cần lưu ý – Cần chú ý các tác nhân gây bệnh trong môi trường bệnh viện để có hướng lựa chọn kháng sinh thích hợp theo chỉ định của bác sĩ tại bệnh viện. – Bảo đảm vô trùng các kỹ thuật, dụng cụ khi chăm sóc trẻ; thuờng xuyên thay đổi, sát trùng lồng ấp, máy thở (từ 48 – 72 giờ). – Cách ly trẻ khỏi những người bị hoặc nhiễm trùng. – Hạn chế tiếp xúc trẻ; hạn chế thủ thuật xâm lấn. – Rửa tay bằng nước rửa chuyên dụng trước khi tiếp xúc với trẻ để ngăn ngừa lây truyền bệnh. Tiêm phòng là biện pháp tốt nhất để phòng bệnh cho bé. Ở trẻ sinh non, thời điểm tiêm phòng cũng giống như đối với trẻ đủ tháng, nhưng cần đạt cân nặng chuẩn cho phép thì mới có thể tiêm. Dinh dưỡng: Chọn phương pháp dinh dưỡng như: – Dinh dưỡng đường tĩnh mạch cho trẻ rất nhẹ cân dưới 1250g, các bệnh lý nội khoa giai đoạn nặng chưa thể nuôi ăn qua đường miệng hoặc bệnh lý đường tiêu hóa mắc phải hoặc bẩm sinh. – Dinh dưỡng qua tiêu hóa: trong trường hợp phải dinh dưỡng tĩnh mạch cần sớm chuyển qua đường miệng ngay khi có thể. Sữa mẹ là lựa chọn hàng đầu cho trẻ, giảm nguy cơ viêm ruột hoại tử ở trẻ non tháng, khi không có sữa mẹ nên chọn các loại sữa thích hợp dành cho trẻ non tháng cho đến khi trẻ đạt 37 tuần tuổi. Để hiệu quả hơn trong việc chăm sóc ăn uống cho trẻ sinh non tháng cần bổ sung sắt (2 – 4 mg/kg/ngày) sau 2 tuần tuổi, ăn sữa hoàn toàn và vitamine E (2,2 – 12 UI/ngày), vitamin D (400 UI/ngày). Ngoài ra các gia đình nên tìm sự tư vấn của các bác sĩ dinh dưỡng và tuân thủ đúng theo chỉ định, hướng dẫn, bởi trẻ sinh thiếu tháng cần được duy trì dinh dưỡng cao cho đến khi được ít nhất 9 tháng tuổi và có thể kéo dài đến 12 tháng. Mát- xa cho trẻ sinh non tháng Việc làm này vô cùng quan trọng, nó giúp bé sinh non tháng nhanh cứng cáp, giúp bộ máy hô hấp của trẻ hoạt động tốt hơn, nâng cao khả năng đề kháng của cơ thể bé, đẩy nhanh quá trình trao đổi chất và đào thải những độc tố qua da, và một điều rất quan trọng là nó giúp tăng cường sự kết nối tình mẫu tử, giúp bé gần gũi hiểu mẹ hơn. Trước khi mát-xa da hay làm bất cứ việc gì đó chăm sóc trẻ các mẹ cần rửa tay sạch sẽ tránh lây bệnh cho bé. Theo dõi các rối loạn khác của trẻ sơ sinh non tháng như màu da, môi trẻ, các chi ngón, rối loạn tiêu hóa, phân, nước tiểu để kịp thời có hướng xử trí. Mọi hiện tượng bất thường dù nhỏ của trẻ đều phải được phát hiện, ghi chép để xử trí kịp thời.

Nguyễn Linh Trang

Theo tổ chức WHO, trẻ sơ sinh non tháng được định nghĩa dựa trên tuổi thai, nếu trẻ sinh trước tuần thứ 37 (tính từ ngày đầu của kỳ kinh cuối). Tuy nhiên trong trường hợp không nhớ ngày kinh cuối có thể dựa vào các dẫn chứng lâm sàng, hình thái bên ngoài và biểu hiện về thần kinh để xác định tương đối chính xác tuổi.Chức năng hô hấp của trẻ non tháng còn rất yếu. Trẻ dễ bị suy hô hấp vì- Lồng ngực dễ biến dạng, xương sườn còn mềm, các cơ gian sườn còn yếu.- Phổi chưa dãn nở tốt, các phế nang chưa trưởng thành, trung tâm hô hấp chưa hoàn chỉnh.Bệnh lý hô hấp của trẻ non tháng hay gặp là bệnh màng trong do nhu mô phổi không thể dãn nở đủ để trao đổi không khí.Trẻ non tháng dễ bị nhiễm lạnh vì:- Trung tâm điều hòa thân nhiệt ở não còn non yếu.- Khi bị nhiễm lạnh, trẻ không thể run cơ thể sinh nhiệt chống lại lạnh.Trẻ càng non tháng, trung tâm điều hòa thân nhiệt càng chưa hoàn chỉnh.Nếu nhiệt độ trung tâm của trẻ xuống dưới 35,5C sẽ gây nên hàng loạt biến chứng ở hệ hô hấp, hệ thần kinh và gây xuất huyết não.Các mao mạch mỏng manh dễ vỡ.Các yếu tố đông máu thiếu hụt và giảm ở trẻ non tháng.Lượng vitamin K và prothrombin thấp nên trẻ non tháng dễ bị xuất huyết.Enzym để chuyển hóa bilirubin gián tiếp thành bilirubin trực tiếp bị thiếu hụt và kém hoạt tính nên trẻ non tháng dễ bị vàng da nặng và kéo dài.Thể tích dạ dày nhỏ, dạ dày nằm ngang, các men tiêu hóa còn thiếu hụt đòi hỏi trẻ non tháng phải được cho ăn từng ít một và ăn nhiều lần. Độ acid trong dạ dày kém, thiếu men tiêu hóa và hấp thu không hết thức ăn- dù là sữa mẹ- nên trẻ sễ bị nôn ói, chướng bụng và rối loạn tiêu hóaDo lượng glycogen dự trữ trong gan giảm nên trẻ non tháng dễ bị hạ đường huyết.Hệ thống miễn dịch tế bào còn rất yếu. Khả năng thực bào và diệt khuẩn đều chưa hoàn chỉnh. Mặt khác lượng globulin miễn dịch thể từ mẹ qua thai còn rất ít nếu là non tháng. Hậu quả trẻ non tháng dễ bị nhiễm trùng nặng dẫn đến tử vong.- Đảm bảo trẻ được nuôi bằng sữa mẹ.- Đảm bảo chăm sóc vệ sinh. Tránh gây tổn hại cho trẻ.- Giảm thiểu thời gian cách ly mẹ con. Chăm sóc bằng phương pháp bà mẹ Kangaroo- đó là mô phỏng cách của chuột túi mang con trước bụng, cho phép trẻ non tháng được đặt nằm thường xuyên giữa hai vú mẹ.Xử trí tại phòng sinh của bệnh viện: tránh mất nhiệt và hồi sức ngay sau sinh thật tốt. Trẻ sinh non có nguy cơ ngạt chu sinh cao do không thể khởi phát nhịp thở sau sinh. Nếu trẻ có biểu hiện suy hô hấp ngay sau sinh: cho thở oxy và chuyển đến nơi có thể thở áp lực dương liên tục qua mũi (NCPAP) ngay.Ổn định thân nhiệt: nếu trẻ cần phải chăm sóc đặc biệt hoặc cách ly nên dùng lồng ấp để giảm độ mất nước không nhận biết qua da, tránh những kích thích không cần thiết và tiếng động. Nhiệt độ của bé luôn ở khoảng 37C là thích hợp nhất. Sử dụng phương pháp bà mẹ Kangaroo để giữ ấm cho các trẻ đã qua giai đoạn bệnh nặng. Phương pháp đòi hỏi người mẹ và trẻ da tiếp xúc da rất hiệu quả, ít tốn kém, được áp dụng trên phạm vi toàn thế giới. Nhờ vào thân nhiệt của người lớn, bé sẽ được ủ ấm thích hợp nhất.Kiểm soát nhiễm trùng: Để giảm thiểu nguy cơ nhiễm trùng ở trẻ cần lưu ý- Cần chú ý các tác nhân gây bệnh trong môi trường bệnh viện để có hướng lựa chọn kháng sinh thích hợp theo chỉ định của bác sĩ tại bệnh viện.- Bảo đảm vô trùng các kỹ thuật, dụng cụ khi chăm sóc trẻ; thuờng xuyên thay đổi, sát trùng lồng ấp, máy thở (từ 48 – 72 giờ).- Cách ly trẻ khỏi những người bị hoặc nhiễm trùng.- Hạn chế tiếp xúc trẻ; hạn chế thủ thuật xâm lấn.- Rửa tay bằng nước rửa chuyên dụng trước khi tiếp xúc với trẻ để ngăn ngừa lây truyền bệnh.Tiêm phòng là biện pháp tốt nhất để phòng bệnh cho bé. Ở trẻ sinh non, thời điểm tiêm phòng cũng giống như đối với trẻ đủ tháng, nhưng cần đạt cân nặng chuẩn cho phép thì mới có thể tiêm.Dinh dưỡng: Chọn phương pháp dinh dưỡng như:- Dinh dưỡng đường tĩnh mạch cho trẻ rất nhẹ cân dưới 1250g, các bệnh lý nội khoa giai đoạn nặng chưa thể nuôi ăn qua đường miệng hoặc bệnh lý đường tiêu hóa mắc phải hoặc bẩm sinh.- Dinh dưỡng qua tiêu hóa: trong trường hợp phải dinh dưỡng tĩnh mạch cần sớm chuyển qua đường miệng ngay khi có thể.Sữa mẹ là lựa chọn hàng đầu cho trẻ, giảm nguy cơ viêm ruột hoại tử ở trẻ non tháng, khi không có sữa mẹ nên chọn các loại sữa thích hợp dành cho trẻ non tháng cho đến khi trẻ đạt 37 tuần tuổi.Để hiệu quả hơn trong việc chăm sóc ăn uống cho trẻ sinh non tháng cần bổ sung sắt (2 – 4 mg/kg/ngày) sau 2 tuần tuổi, ăn sữa hoàn toàn và vitamine E (2,2 – 12 UI/ngày), vitamin D (400 UI/ngày).Ngoài ra các gia đình nên tìm sự tư vấn của các bác sĩ dinh dưỡng và tuân thủ đúng theo chỉ định, hướng dẫn, bởi trẻ sinh thiếu tháng cần được duy trì dinh dưỡng cao cho đến khi được ít nhất 9 tháng tuổi và có thể kéo dài đến 12 tháng.Mát- xa cho trẻ sinh non thángViệc làm này vô cùng quan trọng, nó giúp bé sinh non tháng nhanh cứng cáp, giúp bộ máy hô hấp của trẻ hoạt động tốt hơn, nâng cao khả năng đề kháng của cơ thể bé, đẩy nhanh quá trình trao đổi chất và đào thải những độc tố qua da, và một điều rất quan trọng là nó giúp tăng cường sự kết nối tình mẫu tử, giúp bé gần gũi hiểu mẹ hơn. Trước khi mát-xa da hay làm bất cứ việc gì đó chăm sóc trẻ các mẹ cần rửa tay sạch sẽ tránh lây bệnh cho bé.Theo dõi các rối loạn khác của trẻ sơ sinh non tháng như màu da, môi trẻ, các chi ngón, rối loạn tiêu hóa, phân, nước tiểu để kịp thời có hướng xử trí. Mọi hiện tượng bất thường dù nhỏ của trẻ đều phải được phát hiện, ghi chép để xử trí kịp thời.

Đừng Coi Thường Tình Trạng Nổi Mụn Nước Ở Trẻ Sơ Sinh Và Trẻ Nhỏ! / 2023

Mụn nước là một loại mụn nhỏ li ti, có chứa nước (dịch) bên trong, có thể mọc ở bất kỳ vị trí nào trên toàn cơ thể bé, tuy nhiên thường gặp nhiều nhất là ở mặt, má, lưng, tay chân… Khi những nốt mụn này không được chăm sóc, vệ sinh sạch sẽ chúng sẽ tạo điều kiện cho vi khuẩn sinh sôi và phát triển.

1. Nguyên nhân và dấu hiệu nhận biết trẻ bị nổi mụn nước

Trẻ bị nổi mụn nước là bệnh lý rất thường gặp, nếu mụn nước bị vỡ có thể lây lan đến nhiều vùng khác, dẫn đến tình trạng nhiễm trùng, đau rát khó chịu cho trẻ.

Nguyên nhân khiến trẻ nổi mụn nước ở mặt, đầu, tay, chân hoặc khắp người chính là:

Virus, vi khuẩn: Một số loại vi khuẩn, virus khi xâm nhập vào da gây nên tình trạng viêm da và làm xuất hiện các nốt mụn nước.

Bỏng: Trẻ sơ sinh nổi mụn nước có thể do bị bỏng.

Côn trùng cắn: Khi bị côn trùng cắn cũng có thể khiến cho trẻ bị nổi mụn nước.

Bệnh thủy đậu: Trẻ có thể bị bệnh thủy đậu được lây từ người khác. Những nhiễm trùng gây ra bởi virus gây bệnh thủy đậu sẽ tạo ra các mụn ngứa và thường có các mụn nước trên da.

Ngoài ra, việc trẻ bị chấn thương, do ma sát (đeo vòng tay)… cũng có thể là những tác nhân làm gia tăng việc mọc mụn nước ở trẻ.

Dấu hiệu cho thấy trẻ bị nổi mụn nước bao gồm: Trên da bé xuất hiện các nốt nhỏ (bọc mụn) mọc riêng lẻ hoặc từng cụm. Bên trong mụn là chất lỏng trong suốt hoặc màu vàng nhạt. Quanh mụn da thường thâm hoặc rộp đỏ lên. Mụn nước có thể vỡ ra, khô dần tạo thành một lớp vỏ và dần bung ra.

Group Mẹ và Bé VOH – Những bà mẹ thông thái

Phần lớn các trường hợp mụn nước ở trẻ thường có thể tự biến mất sau 1 – 2 tuần hoặc lâu hơn. Tuy nhiên, cần lưu ý với những trường hợp trẻ sơ sinh bị nổi mụn nước do vi khuẩn, virus xâm nhập. Vì lúc này sức đề kháng của bé còn khá yếu nên sẽ tạo điều kiện để các loại virus, vi khuẩn này tấn công vào máu gây nên tình trạng nhiễm trùng máu ở trẻ sơ sinh.

Trường hợp nghiêm trọng nhất là khi chúng xâm nhập vào màng não và các cơ quan khác gây nên những biến chứng như viêm màng não, viêm phổi, áp-xe phổi… cực kỳ nguy hiểm.

2. Cần làm gì khi trẻ bị nổi mụn nước?

Nguyên nhân khiến trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ nổi mụn nước có rất nhiều, chính vì thế cha mẹ cần phải chú ý đến các biện pháp cũng như chăm sóc hợp lý để tránh được những nguy hại không đáng có đối với sức khỏe của con.

Nếu trẻ bị nổi mụn nước mà nguyên nhân không phải do côn trùng cắn hay bị bỏng và trẻ có kèm theo các dấu hiệu như: sốt cao, mụn nước nổi ở diện rộng và có dấu hiệu ngày càng gia tăng thì cha mẹ nên đưa bé đến gặp bác sĩ để được thăm khám kỹ càng.

Mụn nước có thể xuất hiện riêng lẻ hoặc theo từng cụm (Nguồn: Internet)

Tuyệt đối không nên dùng bất kỳ chất gì bôi lên da mà không có chỉ định từ bác sĩ. Ngoài ra, việc sử dụng các phương pháp tắm cho trẻ sơ sinh theo kinh nghiệm dân gian cũng không nên áp dụng vì phần lớn các cách trên đều chưa được khoa học kiểm chứng, dễ gây nguy hiểm đến sức khỏe và làn da của trẻ.

2.1 Những lưu ý cần nhớ khi chăm sóc trẻ bị nổi mụn nước

Khi trẻ sơ sinh hay trẻ nhỏ bị nổi mụn nước, cha mẹ hãy cố gắng giữ gì vệ sinh sạch cho bé bằng cách tắm cho trẻ bằng nước ấm, giúp ngăn ngừa sự xâm nhập của vi khuẩn, tránh nguy cơ nhiễm trùng lan rộng.

Khi tắm hoặc lau rửa cần phải hết sức nhẹ nhàng để tránh gây vỡ mụn nước.

Không nên ủ ấm trẻ quá nhiều vì dễ gây nóng bức và kích ứng da của trẻ. Nên cho trẻ mặc quần áo rộng rãi thoải mái, chất liệu vải có thể thấm hút mồ hôi tốt.

Trước và sau khi thoa thuốc lên vết mụn nước ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ theo chỉ định của bác sĩ, người chăm sóc cần phải rửa tay sạch bằng xà phòng kháng khuẩn.

Như vậy, cha mẹ không nên chủ quan khi thấy trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ bị nổi mụn nước. Nên chủ động phòng ngừa bằng cách chăm sóc và bảo vệ làn da nhạy cảm của trẻ. Mẹ nên cho bé bú nhiều sữa mẹ trong 6 tháng đầu tiên để tăng cường dinh dưỡng và bổ sung nhiều kháng thể nâng cao sức đề kháng của bé.

Group Mẹ và Bé VOH – Những bà mẹ thông thái

Bạn đang xem bài viết Trẻ Sơ Sinh Và Những Đặc Điểm Chung Nhất Ở Trẻ Sơ Sinh / 2023 trên website Tvzoneplus.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!